(TT&VH) - Trên một biển gỗ sơn đỏ hiện treo tại bái đường của miếu Quan Công ở Hội An, chúng tôi phát hiện một chùm 3 bài thơ chữ Hán được khắc lên. Thật bất ngờ đó lại là cuộc xướng họa thơ 3 thế kỷ trước của Tả tướng quân Nguyễn Nghiễm (thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du) và các tiến sĩ Uông Sĩ Điển và Nguyễn Lệnh Tân. Phía sau bài thơ này là một dấu ấn lịch sử quan trọng của Hội An.
Vị tướng văn võ song toàn và cuộc hành binh tới Hội An

Nguyễn Nghiễm có sở trường về Nôm. Cố Lê nhạc chương thi văn tập lục (A.1186 và VHv.2658, Viện Hán Nôm) có chép được 5 bản Nhạc chương Nôm của các Nho thần triều Lê gồm Nguyễn Nghiễm, Nguyễn Hoãn, Lê Quý Đôn, Nguyễn Huy Oánh, Mai Thế Uông. Đây là 5 bản Nhạc chương được tấu lên cùng với âm nhạc trong lễ tế ở cung miếu họ Trịnh. Phát hiện về nhạc chương Nôm được dùng trong cung miếu nhà Trịnh mà tác giả là các bậc đại bút tiêu biểu cho các nho sĩ phong kiến sẽ bổ sung thêm cho những hiểu biết về văn học các thế kỷ XVII và XVIII. Các bản Nhạc chương Nôm đời Lê cho thấy thời đại này đang xây dựng cho riêng một lề lối “y - quan - lễ - nhạc” khác Trung Hoa, khẳng định sự độc lập và riêng khác của văn hóa Việt, trong thế đối thoại với Trung Hoa. Đáng tiếc là sau đó, triều Nguyễn đã không nối tiếp được điều này.
Năm Ất Mùi (1775) trên đường tiến binh, quân của Chúa Trịnh đã chiếm lĩnh Hội An. Tả tướng quân Nguyễn Nghiễm bấy giờ đã cùng các tướng lĩnh đề thơ ở miếu Quan Công (nay gọi là Chùa Ông) tại Hội An. Nguyễn Nghiễm mở đầu bằng bài xướng, sau đó các Tiến sĩ Uông Sĩ Điển và Nguyễn Lệnh Tân họa theo nguyên vận. Chùm thơ đề vịnh đó đã được khắc vào một biển gỗ sơn màu đỏ hiện còn treo ngay tại bái đường của miếu Quan Công ở Hội An.
Bài thơ đề vịnh miếu Quan Công của Nguyễn Nghiễm là một bài thơ thuộc thể tài đề vịnh. Và cũng là một trong số ít bài thơ chữ Hán của Nguyễn Nghiễm mà chúng ta còn biết được.
Tâm sự trước thời cuộc
Theo Nguyễn Phước Tương thì “thực sự quân Trịnh đã gây cảnh đổ nát nặng nề cho cảng thị Hội An và chỉ chừa lại cách kiến trúc tín ngưỡng như miếu Quan Công, chùa Phật Quan Âm, cung Thiên Hậu, hội quán Dương Thương, đình Vạn Thọ...” (tập san Văn hóa Hội An, tháng 9/1998). Bài thơ của Nguyễn Nghiễm không những cho thấy một Quan Công Miếu vẫn còn đó sau cơn binh lửa, mà còn chứng tỏ Nguyễn Nghiễm, vị tướng cầm quân đã đến thăm đền và gửi gắm tâm sự của mình trước thời cuộc, mượn chuyện Quan Vân Trường chỉ có nhà Hán để nói lòng mình chỉ có nhà Lê, mượn chuyện dưới mắt Vân Trường không có chuyện “tam phân thiên hạ” để nói chuyện không có Đàng Trong - Đàng Ngoài, không có Trịnh - Nguyễn mà chỉ có nhà Lê.
Đó là tâm sự mà Hy Tư Nguyễn Nghiễm ký thác, và thể hiện tấm lòng trung quân của ông.
Dưới đây là toàn văn các bài thơ này. Mở đầu là bài Sư để Hội An phố đề Quan Phu Tử miếu của Nguyễn Nghiễm:
|
Niết ngột Viêm đồ khảng khái thân Đào viên huynh đệ tức quân thần Trực tương trung nghĩa sư thiên cổ Vô luận anh hùng địch vạn nhân Tâm thượng Cao, Quan hoàn nhất thống Mục trung Ngô, Ngụy thất tam phân Chí kiêm vạn quốc đồng chiêm phụng Phỉ trực nguy nhiên hải thượng thần |
Đưa quân đến phố Hội An đề miếu Quan phu tử
|
Cơ đồ nhà Hán chông chênh, (ngài) tỏ tấm thân khảng khái, Anh em nơi vườn Đào, cũng là vua tôi (của nhau), Nêu tấm gương trung nghĩa, thầy của muôn đời. Chẳng kể anh hùng, sức địch vạn người, Tấm lòng hướng về Cao, Quang, mong giang sơn quy về một mối Trong mắt nước Ngô nước Ngụy không còn chia làm ba Cho đến ngày nay, muôn nước cùng chiêm bái kính phụng Vòi vọi nguy nga như vị thần trên biển. |
|
Lòng son vì nước, đem thân vì nước
Trung nghĩa thay! Người em ấy. Khí tiết thay! Người bề tôi ấy. Tiếng anh hùng không chỉ kể trong ba người tiết tháo đất Thục. Lòng trung liệt chỉ có thể tìm được ở một người xưa ấy thôi! Sẵn sàng coi cơ đồ nhà Hán là trách nhiệm của bản thân mình Sao có thể để cơ nghiệp đế vương cho người ta chia cắt. Chuyện tranh giành nhau ở đời cũng chỉ đều là tàn tích cả Chính khí lẫm liệt đáng là vị thần của muôn thưở. |
|
Đạo cương thường xem là trọng trách của kẻ sĩ và tự thân gánh vác lấy,
Một ngựa giữa đường đao, đáng bề tôi (mẫu mực) ở đời. Trong ba nước, là anh hùng không có đối thủ. Trong các người trung liệt, đáng kể, có người ấy! Nghĩa khí vẹn mười phần trong đời Xuân Thu, Chí khí lẫm liệt sáng ngang trời đất. Hai mươi năm là danh tướng, muôn năm sau là đấng thần linh. |