(Thethaovanhoa.vn) - Liệt sĩ Trần Bỉnh Khuôl mất năm 1968, mộ của ông bị quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn san ủi làm trận địa pháo, hài cốt của ông không còn nữa. Nhưng những tấm ảnh máu lửa của ông trong chiến tranh vẫn còn đó.

Việt Nam đạt hai bằng Danh dự tại cuộc thi nhiếp ảnh FIAP 2021

Việt Nam đạt hai bằng Danh dự tại cuộc thi nhiếp ảnh FIAP 2021

Thông tin từ Hội Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam cho biết, tại Cuộc thi ảnh thường niên năm 2021 do Liên đoàn Nhiếp ảnh Nghệ thuật quốc tế (FIAP) tổ chức, Việt Nam đã đạt 2 Bằng Danh dự quốc gia và 1 bằng Danh dự cá nhân.

Các nhà nhiếp ảnh của bên kia chiến tuyến đã trân trọng tuyển chọn in chúng vào sách Hồi niệm (Requiem) để đời của họ. Và những bức ảnh vô giá đó của ông đã được chúng ta tôn vinh với Giải thưởng Nhà nước năm 2007.

“Khi biên soạn cuốn sách ảnh Hồi niệm (Requiem), do NXB Random House - Hoa Kỳ ấn hành, năm 1997, tôi nhận được mấy bức ảnh Quân Giải phóng đánh căn cứ Đầm Dơi, đánh chiếm đồn Cái Keo... của Trần Bỉnh Khuôl, tự nhiên tôi xao xuyến và thực sự xúc động. Vì những nơi đó tôi đã đến, những bức ảnh đó nhắc tôi nhớ lại những ngày có mặt tại Sài Gòn với tư cách phóng viên chiến tranh của hãng thông tấn AP Mỹ.

Chú thích ảnh
Liệt sĩ Trần Bỉnh Khuôl

Sáng hôm ấy, tôi ngồi trực thăng quân sự Mỹ đi từ Sài Gòn vào Cà Mau, nơi chiến sự vừa xảy ra trong đêm. Tôi cứ nghĩ, mình là người đầu tiên có mặt tại chi khu quân sự này. Và ảnh mình chụp là độc nhất. Nào có hay, khi đêm diễn ra trận đánh thì Trần Bỉnh Khuôl đã có mặt, tôi nhận ra hiện trường trận đánh trong ảnh của ông ấy sôi sục không khí trận mạc. Còn ảnh của tôi là hiện trường đồn bốt tan hoang của ngày hôm sau vắng tiếng súng. Tôi thực sự cảm phục đôi chân đất xông pha của các nhà nhiếp ảnh Việt Nam...”

Đấy là lời phát biểu của Horst Faas tại buổi khai mạc Triển lãm ảnh Hồi niệm do ông (Horst Faas) và Tim Page kết hợp với Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức ở Hà Nội năm 2000. Một triển lãm ảnh đặc biệt của 135 nhà nhiếp ảnh ở 2 chiến tuyến đã ngã xuống trên chiến trường Đông Dương từ năm 1945 đến năm 1975. Một triển lãm ảnh mà năm ấy Tổng thư ký Hội NSNAVN Lê Phức, và người đại diện Thông tấn xã Việt Nam là ông Nguyễn Duy Cương, Phó Tổng giám đốc, đã cất công sang tận Kentucky, trên nước Mỹ đàm phán, mang về Hà Nội và TP.HCM trưng bày. Và theo ông Phức, Hồi niệm là bộ ảnh hay nhất, xúc động nhất về chiến tranh Việt Nam.

Tôi muốn nhắc lại lời chia sẻ chân tình của Horst Faas về Trần Bỉnh Khuôl, để thấy rằng, những con người tài năng, chính trực, dù ở bên này hay phía bên kia chiến tuyến, dù xu hướng chính trị có thể khác nhau, dù được tiếp thu các nền văn hóa khác nhau, nhưng họ không đố kỵ, không phủ nhận sự thật khách quan và giá trị đích thực của những tác phẩm ảnh chân thật. Và sức mạnh của nhiếp ảnh là ở chỗ đó.

Năm 1965, trong một đêm tháng 9, phóng viên nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl đi theo bộ đội Cà Mau, đã ghi lại được những khoảnh khắc độc đáo các chiến sĩ giải phóng người thì mình trần, chân đất, chỉ mặc một chiếc quần xà lỏn, người thì mũ vải, áo may ô, áo dài tay, bùn nhão bết toàn thân đang hối hả vượt qua hàng rào dây thép gai, đánh chiếm căn cứ Đầm Dơi.

Chú thích ảnh
Du kích Cà Mau kéo súng cối để tấn công cứ điểm Cái Keo của địch năm 1965. Ảnh Trần Bỉnh Khuôl

Ảnh các chiến sĩ “chân đồng vai sắt” chìm giữa bùn lầy khênh vác khẩu súng cối tiến đánh đồn Cái Keo, Cà Mau. Súng cối 82 ly nặng 36 kg, cối 100 ly nặng 75 kg, đi trên đường bằng đã quá nặng nề, đằng này lại đi dưới sình lầy ngập quá ngực trong đêm tối, thì mỏi mệt đến chừng nào? Nhóm ảnh này khắc họa rất rõ nét mặt của từng chiến sĩ, đặc biệt những chiến sĩ bị thương, sau khi được băng bó, vẫn bám trụ chiến đấu. Cả tập thể đều toát lên tinh thần quả cảm, quyết tâm diệt thù.

Chúng ta xúc động đánh giá cao những tác phẩm này đã đành, nhưng vì sao Horst Faas và Tim Pege lại có sự đồng cảm gần gũi chúng ta? Đấy là điều kỳ diệu mà Trần Bỉnh Khuôl đã làm được qua những bức ảnh mang dấu ấn của một tài năng. Một tài năng nhiếp ảnh vượt qua các rào cản của định kiến, vượt qua thời gian và không gian. Dù ở góc đứng nào trên Trái đất, người ta vẫn nhìn ra trong ảnh sự xả thân của những người lính Việt Nam, và sau bức ảnh là sự xả thân của nhà nhiếp ảnh. Cùng cầm máy ảnh ở chiến trường, họ thấu hiểu công việc của nhau, đọc được ảnh của nhau, và rất dễ cảm nhận tâm hồn của nhau. Điều đó khiến chúng ta thực sự cảm kích.

***

Trần Bỉnh Khuôl (Anh Hai Nhiếp) sinh năm 1913, ở huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, mất ngày 12/12/1968 trên đường đi chụp ảnh trận đánh ở Rạch Trui, Cái Tàu, huyện U Minh, lúc ấy ông mới 55 tuổi. Ông được đồng đội chôn cất tại nghĩa trang Biện Nhị, huyện U Minh. Nhưng nơi đây bị Mỹ - Ngụy san ủi làm trận địa pháo, nên mộ của ông mất luôn từ thuở ấy.

Sau ngày đất nước thống nhất, nhân dân và chính quyền địa phương đã xây mộ tượng trưng mang tên ông tại Nghĩa trang liệt sĩ huyện U Minh. Vợ ông là bà Lê Thị Nga, quê thị trấn Hộ Phòng, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Một tay bà nuôi 8 người con trưởng thành, có 3 người con trai theo cha đi kháng chiến đã hy sinh trên chiến trường.

Chú thích ảnh
Quân giải phóng đánh chiếm Đầm Dơi (tháng 9/1963)

Nhà nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl có một tuổi thơ gian truân, mồ côi cha mẹ từ năm 11 tuổi. Trước năm 1945, ông làm nhiều nghề để kiếm sống như chụp ảnh dạo, vẽ truyền thần ở thị xã Bạc Liêu. Năm 1946, ông tham gia kháng chiến. Suốt 9 năm kháng chiến gian khổ, hoạt động bí mật ngay trong lòng địch tại tỉnh Bạc Liêu, ông đã từng bị giặc bắt và đày ra Côn Đảo. Sau đó ông vượt ngục trở về tiếp tục công tác tại Ban Tuyên huấn huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

Khi Hiệp định Geneva 1954 có hiệu lực, Trần Bỉnh Khuôl được bố trí ở lại hoạt động, không tập kết ra Bắc. Năm 1961, ông được điều về công tác ở cơ quan Thông tấn báo chí khu 9, thuộc phòng Điện - Nhiếp ảnh. 1 năm sau, phòng Điện - Nhiếp ảnh tách đôi, ông được phân công làm Trưởng phòng Nhiếp ảnh Thông tấn xã miền Tây (khu 9). Phòng nhiếp ảnh gồm: Võ An Khánh, Út Minh, Nguyễn Hoàng Phước, Phạm Quang Hiến… là những tay máy hăng hái xông pha trận mạc. Họ chụp được nhiều cảnh bộ đội phá đồn bốt giặc, nhiều cuộc hành quân vượt sông nước trong đêm, và những cuộc đồng khởi nổi dậy của nông dân phá “ấp chiến lược”, “ấp dân sinh” v.v…

Từ năm 1967 trở đi, Mỹ - Ngụy đẩy mạnh chiến tranh, vận động tổng lực hải lục không quân, biệt kích, thám báo thọc sâu vào vùng căn cứ kháng chiến, tăng cường dùng máy bay rải chất độc hóa học, máy bay B52 ném bom rải thảm nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng. Đề đối phó với giặc, các cơ quan khu miền Tây và phòng Nhiếp ảnh Thông tấn phải rút sâu vào rừng U Minh xây dựng căn cứ. Đây là một vùng trũng, mùa Hè khô cạn không nước, đất đai nứt nẻ, không có nổi một ngọn rau. Đời sống cán bộ, bộ đội vô cùng thiếu thốn cực khổ. Ban đêm muỗi bay như trấu, nhiều cán bộ, chiến sĩ ốm đau không thuốc thang… Nhưng phóng viên nhiếp ảnh Trần Bỉnh Khuôl đã vượt qua tất cả, luôn luôn hăng hái lên đường cùng bộ đội chiến đấu.

Ảnh của Trần Bỉnh Khuôl có nhiều, nhưng do ông hy sinh đột ngột, trụ sở lại luôn phải di chuyển, nên tài liệu đã bị thất thoát. Hiện còn lưu giữ được một số ảnh quý giá như: Bộ ảnh lễ ra mắt Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Tây Nam Bộ, các trận công đồn, đánh lớn của quân và dân Cà Mau: Trận Trà Là, Đầm Dơi, Cái Keo, Giồng Riềng, Long Mỹ (Hậu Giang), Gò Quao v.v…

Ảnh trận Đầm Dơi, Cái Keo của Trần Bỉnh Khuôl được in vào sách ảnh Requiem (Hồi niệm), xuất bản ở Mỹ năm 1997. Nó cũng được đưa vào sách Ảnh Việt Nam thế kỷ XX do Bộ Văn hóa - Thông tin và Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam chủ trì biên soạn ra mắt bạn đọc năm 2007. Và chính những bức ảnh ấy, năm 2007 đã được Giải thưởng Nhà nước, phần thưởng cao quý dành cho những tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị nội dung sâu sắc, giá trị nghệ thuật cao và có tác dụng lớn trong đời sống văn hóa nghệ thuật của nhân dân.

***

Chúng tôi, những người cầm máy ảnh trong chiến tranh coi Trần Bỉnh Khuôl là một cánh chim đầu đàn của nhiếp ảnh Nam Bộ với cái tên kính trọng thân tình: Anh Hai Nhiếp.

Anh Hai còn được Nhà nước truy tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huy chương vì sự nghiệp báo chí Việt Nam.

Những ngày này nhớ Anh Hai Nhiếp, cũng là lúc nhớ đến 3 người con trai dũng cảm của anh đã hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ, nhớ đến chị Lê Thị Nga, người vợ can đảm của anh, người được phong tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng. Cả gia đình đã noi gương anh, cùng anh hiến dâng đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Anh gửi đời mình vào nhiếp ảnh, và nhiếp ảnh đã cùng anh tạc vào thế kỷ tầm vóc hào hùng của dân tộc ta.

Người làng quê anh, đồng nghiệp trong nước và nước ngoài đều nhận ra một điều giản dị: Điểm tựa cho những bức ảnh bất hủ của anh là cả một gia đình cách mạng yêu nước.

(Hà Nội tháng 7/2021)

Chu Chí Thành
(Nguyên Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam)