(Thethaovanhoa.vn) - Bất kỳ một nền văn minh nào từng tham chiến cũng có mục chế tạo áo giáo, cầu kỳ hay đơn giản khác nhau, trong đó có nhiều nền văn minh, áo giáp trở thành một phong cách thời trang, đánh giấu mức độ phát triển về công nghệ, kỹ thuật chiến tranh và quan niệm thẩm mỹ.

Trong chiến tranh bộ binh với các vũ khí sát thương gươm đao cá nhân xưa, áo giáp là phần không thể thiếu nhằm bảo vệ tướng lĩnh và binh sĩ khi giao chiến đa diện trên chiến trận. Bất kỳ một nền văn minh nào từng tham chiến cũng có mục chế tạo áo giáp, cầu kỳ hay đơn giản khác nhau, trong đó có nhiều nền văn minh, áo giáp trở thành một phong cách thời trang, đánh dấu mức độ phát triển về công nghệ, kỹ thuật chiến tranh và quan niệm thẩm mỹ  với những thứ nặng nề và che chắn cho con người khỏi tên rơi đạn lạc. Áo giáp của người Hy Lạp - La Mã, áo giáp Trung Hoa, áo giáp châu Âu thời Trung cổ đều có xu hướng kết hợp sự bảo vệ và phong cách thời trang nhất định.


Vòng chân, đồ đồng Đông Sơn, hiện vật Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ảnh Nguyễn Anh Tuấn

Một đất nước có nhiều cuộc chiến tranh, nhất là chiến tranh chống xâm lược phương Bắc, như Việt Nam tất yếu khoa binh khí và võ nghệ phải phát triển, trong đó có áo giáp bộ binh, tuy nhiên cho đến nay chúng ta rất khó tìm thấy một bộ áo giáp phong kiến nguyên vẹn. Khi những đoàn làm phim muốn thực hiện những bộ phim lịch sử phần lớn họ phải sang Trung Hoa mua, mượn và không tránh khỏi những ảnh hưởng do không biết thực sự áo giáp Việt Nam như thế nào. Một vài thiết kế khác vẽ từ các pho tượng võ sĩ trong lăng mộ và đền chùa, thì phần lớn đều giống áo giáp thời Tống ở Trung Hoa và thực ra mang tính tượng trưng hơn là một thiết kế thực dụng. Khi nghiên cứu về áo giáp, người ta thấy có ba phần: áo giáp thực chiến, áo giáp trong tượng cổ, áo giáp trong biểu diễn sân khấu cổ (tuồng, Kinh kịch), ba phần này có giá trị tham khảo vì có nghiên cứu từ áo giáp thật, nhưng áo giáp trong hai phần sau cách điệu và thẩm mỹ hóa lên rất nhiều so với sự thực.

Trong những nghiên cứu của người Pháp về văn hóa Mường có nhắc đến những bộ áo giáp mây, tức là áo giáp làm bằng mây của người bản xứ. Trong bộ tiểu thuyết nổi tiếng Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung có nhiều hồi dài nói về Khổng Minh bình Mạnh Hoạch (Thất  cầm Mạnh Hoạch - Bảy lần bắt Mạnh Hoạch), trong khoảng giữa thế kỷ 3, sau Công nguyên, một thủ lĩnh phương Nam, gọi là Nam Man, trong đó có nhắc đến quân Khổng Minh từng giao chiến và ban đầu thất bại trước quân giáp mây, một bộ tộc ra giúp quân Mạnh Hoạch. Loại giáp này trong khảo sát của các nghiên cứu Trung Hoa về áo giáp có nói đến và vẽ hình nom khá cứng nhắc, nhưng cũng đầy đủ các bộ phận mũ, áo thân che bắp tay, che hai đùi, bụng dưới và khiên cầm tay. Áo giáp mây chỉ có thể đốt cháy, chứ gần như không bị đâm thủng, chém thì chả ăn thua gì, và tên bắn cũng không xuyên. Trong tiểu thuyết trên, Khổng Minh dùng kế lừa quân giáp mây tập trung vào một hang động và phóng hỏa, giáp mây cháy hết. Tiểu thuyết đó cũng nói đến khi làm giáp mây, người ta ngâm tẩm các sợi mây vào dầu, nên chúng rất dai chắc, đan ken thành áo giáp trở nên chắc chắn khó đâm xuyên, chặt đứt, khi qua sông quân lính ngồi trên giáp mây, lấy vũ khí làm mái chèo, bơi nổi như thuyền, nhưng nhược điểm không chịu được lửa. Nhưng vận động cơ thể trong giáp mây khá khó khăn, do vật liệu này cứng, các khớp nối không linh hoạt như giáp da và giáp móc sắt. Cũng theo mô tả trong tiểu thuyết thì vùng Nam Man đó chính là phía Bắc Việt Nam và quân của Phục Ba Mã Viện từng trèo núi qua đây khi tiến vào Giao Châu đánh quân của Hai Bà Trưng. Trong quân đội phong kiến Đại Việt sau này không nhắc đến việc dùng giáp mây, nhưng khiên mây thì có và xuất hiện trên hình vẽ sớm các thạp gốm Lý Trần, khiên mây nhẹ và che chắn tên, giáo tốt hơn khiên gỗ. Quân Đại Việt tay cầm khiên, tay cầm giáo ngắn, hoặc mã tấu. 

Vòng tay, đồ đồng Đông Sơn, hiện vật Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ảnh Nguyễn Anh Tuấn

Áo giáp và binh khí Đông Sơn trong các di chỉ khảo cổ lại tương đối đầy đủ, dù thời đại này cách đây khá xa, ít nhất từ 3.000 năm đến 2.500 năm. Tuy nhiên người Đông Sơn theo những hiện vật để lại chỉ có một miếng giáp ngực, gọi là hộ tâm kính theo khái niệm Hán, thắt lưng, vòng lớn đeo cổ chân và cổ tay, cũng vừa bảo vệ vừa tấn công được. Chúng ta hình dung một chiến binh Đông Sơn, đầu cắm lông chim, xõa tóc, mình trần, xăm trổ các hình giao long đầy mình, tay và chân lồng đeo các vòng lớn và dài đến 15 phân với nhiều lục lạc gắn theo các vòng, ngực đeo miếng giáp hình chữ nhật có khắc hình con thuyền, thắt lưng giắt dao găm và kiếm ngắn, tay cầm giáo và khiên mây, nom cũng ngoạn mục. Áo giáp ngực Đông Sơn khá nhỏ, chừng 30 - 35 phân ngang, 20 phân cao, có vòng lỗ phía trên để lồng dây đeo từ cổ và buộc hai dây dưới ra phía sau lưng, nó có thể che được vùng ngực và tim của chiến binh. Các vòng tay và chân làm bằng các vòng đồng hoặc đúc liền hoặc thành từng vòng rời gắn vào với nhau liên tục, vừa dùng cổ tay đỡ vũ khí, như dao găm, kiếm chém và nếu đập cổ tay vào mặt đối phương cũng là đòn giáng rất nặng. Trang bị áo giáp Đông Sơn rất gọn nhẹ, đẹp mắt, biểu lộ vẻ đẹp cơ thể của các chiến binh, dù giáp đó không che kín hoàn toàn được cơ thể, nhưng đây là loại thời trang có phong cách hẳn hoi của thời đại trống đồng.

Một đất nước có nhiều các cuộc chiến tranh, nhất là chiến tranh chống xâm lược phương Bắc, như Việt Nam, tất yếu khoa binh khí và võ nghệ phát triển. Nhưng đến nay rất khó tìm thấy một bộ áo giáp phong kiến nguyên vẹn. Khi làm phim lịch sử, hầu hết các đoàn làm phim phải sang Trung Quốc mua, mượn.

Phan Cẩm Thượng
Thể thao & Văn hóa Cuối tuần