(TT&VH Cuối tuần) - TS Bùi Quang Thắng được nhiều người gọi ngắn ngọn là “ông lễ hội”. Điều đó cho thấy cái duyên của ông khi phục dựng các lễ hội truyền thống trong dân gian. Hàng chục lễ hội khắp nơi trên mọi miền tổ quốc đã “phục sinh” gắn liền với tên tuổi của ông. Từ những hội làng như Xuân Phả (Thanh Hóa) cho đến những lễ hội tầm vóc quốc gia như Lễ hội Lam Kinh, Côn Sơn Kiếp Bạc hay lễ Tịch Điền… đều mang đậm dấu ấn cá nhân của ông. Ông cũng là người tiên phong đưa nghệ thuật đương đại vào các lễ hội truyền thống gây nhiều tranh cãi trong dư luận...
Lễ hội không có tội
* Thưa TS, quá trình đưa ông đến với lễ hội như thế nào? Ông có thể chia sẻ với độc giả cảm giác của mình khi phục dựng lễ hội đầu tiên và những kỉ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời làm lễ hội của mình.
- Lễ hội 5 làng Tích Sơn (Vĩnh Phúc) và lễ hội Xuân Phả (Thọ Xuân, Thanh Hóa) là những lễ hội mà tôi phục dựng đầu tiên. Tính đến nay cũng đã ngót nghét chục năm rồi. Cách đây 5 năm, khi tôi quay về Xuân Phả, các cán bộ xã nói vui với tôi rằng: “Anh có công to với địa phương, nhưng tội anh cũng rất to”. Thấy tôi ngơ ngác, các anh ấy liền giải thích: ”Nhờ anh mà lễ hội của chúng tôi được phục dựng và ngày càng phát triển, cứ mỗi lần lễ hội, dân làng đón tiếp nhiều khách, nhà nào cũng liên hoan, nên trong một ngày mà có tới trên 70 con chó bị thịt”…
* Cho đến nay lễ hội nào mà ông làm tổng đạo diễn khiến cho ông ưng ý và tâm đắc nhất?
- Mỗi lễ hội tôi làm đều có một vẻ, nên khó có thể chọn ra cái mình ưng ý nhất. Ví dụ, lễ hội Lam Kinh 2005 với 900 nông dân tham gia trình diễn các diễn xướng dân gian là một tuyên ngôn chống sân khấu hóa. Lễ hội Kiếp Bạc 2006 là đại diễn xướng hợp quân của 100 chiếc thuyền trên sông Lục Đầu và lần đầu tiên liên hoan diễn xướng hầu đồng được tổ chức công khai, lễ hội Lảnh Giang và Tịch Điền là sự thử nghiệm cách làm lễ hội theo quan điểm văn hóa học (tức là kết hợp các tri thức văn hóa lễ hội, nghiên cứu cộng đồng và tổ chức sự kiện)… Tuy nhiên, nếu buộc phải chọn thì tôi sẽ chọn lễ hội Kiếp Bạc là lễ hội ưng ý nhất.
* Hiện nay theo thống kê chưa đầy đủ thì một năm ở nước ta có tới 8.000 lễ hội lớn nhỏ. Như vậy trung bình một ngày có khoảng 21 lễ hội, một con số quá lớn. Ông có bình luận gì về con số này?
- Càng nhiều lễ hội thì càng nhiều địa phương có dịp quảng bá, càng nhiều cộng đồng có dịp tham gia, càng tốt chứ sao. Bản thân lễ hội không có tội. Còn vấn đề xung quanh lễ hội phát sinh là do công tác tổ chức và quản lí yếu kém. Đấy đâu phải lỗi do lễ hội gây ra?

* Trong kì họp Quốc hội gần đây, Bộ trưởng Bộ VH-TT&DL Hoàng Tuấn Anh đã nhận được rất nhiều ý kiến chất vấn từ các đại biểu Quốc hội về việc các địa phương đua nhau tổ chức Lễ hội na ná nhau gây tốn kém cũng như các vấn đề nhiễu nhương chướng tai gai mắt gây bức xúc trong dư luận. Quan điểm của ông thế nào?
- Không thể cấm các lễ hội được đâu. Không thể hạn chế các lễ hội bằng các văn bản hành chính. Mỗi lễ hội diễn ra nó đều có sứ mệnh và ý nghĩa của nó cả. Lễ hội là nhu cầu của cả cộng đồng chứ không phải là ý chí của một vài người. Trong số 8.000 lễ hội đó đa số là lễ hội dân gian, tức là đã có từ rất lâu đời. Còn một số lễ hội mang tính xã hội hóa do các doanh nghiệp, tổ chức khác nhau tài trợ nên không phải tiền ngân sách.
* Vậy thì những lộn xộn mà lễ hội gây ra?
- Nói thật nhé, lễ hội mà không chen chúc thì buồn. Lễ hội mà không có “móc túi” thì thất bại. Bạn cứ ngẫm mà xem.
Tôi làm lễ hội để thỏa mãn cá nhân
* Ông là người tiên phong đưa nghệ thuật đương đại vào các lễ hội truyền thống. Nhiều người cho rằng điều đó làm mất đi sự linh thiêng thậm chí là phỉ báng thánh thần!
- Không chỉ phương Tây mà rất nhiều nước trên thế giới đã thay đổi quan điểm bảo tồn di sản từ mô hình bảo tồn nguyên gốc sang bảo tồn - phát triển rồi. Nếu như mô hình bảo tồn nguyên gốc bám rễ vào tính chân thực lịch sử thì mô hình kia lại không bị lệ thuộc vào điều đó và người ta lấy lợi ích cộng đồng làm mục tiêu để tổ chức lễ hội. Nói cách khác, sự thay đổi, bổ sung những yếu tố làm tăng tính hấp dẫn của di sản không bị hạn chế nếu nó tiếp thị được cho di sản. Dĩ nhiên, người làm lễ hội phải có một sự nghiên cứu kĩ càng các cơ sở văn hóa của những cái mới mà anh ta thêm vào, những “body art” hay “body trâu” mà tôi làm là có căn cứ cả chứ không hề tùy tiện, áp đặt. Tôi đã từng nói với đồng nghiệp của mình rằng: Cho tôi tiền bảo tôi “body art” ở lễ hội Đức Thánh Trần tôi cũng chịu, không dám làm!

* Trong một lễ hội thì có cả phần lễ và phần hội. Đa số các lễ hội ông làm thì phần lễ gần như giữ nguyên còn phần hội thì có rất nhiều trò chơi và những loại hình nghệ thuật mang tính thể nghiệm. Hình như ông chủ yếu đầu tư cho phần hội nhiều hơn trong khi trên thực tế việc các lễ hội có sức thu hút hay không là do yếu tố tâm linh có thiêng hay không chứ không phải do phần hội vui vẻ.
- Trong quan niệm lý thuyết về lễ hội của tôi không có sự bóc tách giữa phần lễ và phần hội. Tất cả các thành tố của lễ hội (từ kiến trúc thờ tự, nghi trượng - nghi vật, đến những yếu tố văn hóa phi vật thể như cúng tế, rước sách, nghệ thuật dân gian, diễn xướng dân gian, thậm chí đến vui chơi và ăn uống cộng cảm) đều góp phẩn biểu tượng hóa cái linh thiêng. Những gì được coi là cái mới mà tôi đưa vào lễ hội như các diễn xướng bọc trứng nở ra 3 ông rắn, 3 ông rắn múa lượn dưới hồ nước trong lễ hội đền Lảnh Giang, hoặc hội thi vẽ trâu, diễn xướng “vua nhập thế đi cày” trong lễ hội Tịch Điền đều liên quan đến các huyền tích và đều được làm theo cách hướng thần, tức chúng liên quan đến lễ nghi. Điều này hoàn toàn khác về bản chất so với những hoạt động mà ta thường gọi là phần hội như các trò thi đấu thể thao, hay biểu diễn văn nghệ phục vụ bà con trong các lễ hội.
* Nhiều người gọi ông là ‘’ông lễ hội’’. Ông nghĩ như thế nào về danh hiệu không chính thức mà công chúng dành cho mình?
- Tôi chưa nghe thấy ai nói về mình như vậy. Thực lòng, tôi làm lễ hội là để thỏa mãn sở thích của mình và với một chút hi vọng đóng góp một phần vào việc thúc đẩy để lễ hội sống được cùng cộng đồng trong thời buổi kinh tế thị trường sôi động hôm nay.
Lễ hội không có tội
|
TS Bùi Quang Thắng |
- Lễ hội 5 làng Tích Sơn (Vĩnh Phúc) và lễ hội Xuân Phả (Thọ Xuân, Thanh Hóa) là những lễ hội mà tôi phục dựng đầu tiên. Tính đến nay cũng đã ngót nghét chục năm rồi. Cách đây 5 năm, khi tôi quay về Xuân Phả, các cán bộ xã nói vui với tôi rằng: “Anh có công to với địa phương, nhưng tội anh cũng rất to”. Thấy tôi ngơ ngác, các anh ấy liền giải thích: ”Nhờ anh mà lễ hội của chúng tôi được phục dựng và ngày càng phát triển, cứ mỗi lần lễ hội, dân làng đón tiếp nhiều khách, nhà nào cũng liên hoan, nên trong một ngày mà có tới trên 70 con chó bị thịt”…
* Cho đến nay lễ hội nào mà ông làm tổng đạo diễn khiến cho ông ưng ý và tâm đắc nhất?
- Mỗi lễ hội tôi làm đều có một vẻ, nên khó có thể chọn ra cái mình ưng ý nhất. Ví dụ, lễ hội Lam Kinh 2005 với 900 nông dân tham gia trình diễn các diễn xướng dân gian là một tuyên ngôn chống sân khấu hóa. Lễ hội Kiếp Bạc 2006 là đại diễn xướng hợp quân của 100 chiếc thuyền trên sông Lục Đầu và lần đầu tiên liên hoan diễn xướng hầu đồng được tổ chức công khai, lễ hội Lảnh Giang và Tịch Điền là sự thử nghiệm cách làm lễ hội theo quan điểm văn hóa học (tức là kết hợp các tri thức văn hóa lễ hội, nghiên cứu cộng đồng và tổ chức sự kiện)… Tuy nhiên, nếu buộc phải chọn thì tôi sẽ chọn lễ hội Kiếp Bạc là lễ hội ưng ý nhất.
* Hiện nay theo thống kê chưa đầy đủ thì một năm ở nước ta có tới 8.000 lễ hội lớn nhỏ. Như vậy trung bình một ngày có khoảng 21 lễ hội, một con số quá lớn. Ông có bình luận gì về con số này?
- Càng nhiều lễ hội thì càng nhiều địa phương có dịp quảng bá, càng nhiều cộng đồng có dịp tham gia, càng tốt chứ sao. Bản thân lễ hội không có tội. Còn vấn đề xung quanh lễ hội phát sinh là do công tác tổ chức và quản lí yếu kém. Đấy đâu phải lỗi do lễ hội gây ra?
Quang cảnh lễ hội Tịch điền 2010
- Không thể cấm các lễ hội được đâu. Không thể hạn chế các lễ hội bằng các văn bản hành chính. Mỗi lễ hội diễn ra nó đều có sứ mệnh và ý nghĩa của nó cả. Lễ hội là nhu cầu của cả cộng đồng chứ không phải là ý chí của một vài người. Trong số 8.000 lễ hội đó đa số là lễ hội dân gian, tức là đã có từ rất lâu đời. Còn một số lễ hội mang tính xã hội hóa do các doanh nghiệp, tổ chức khác nhau tài trợ nên không phải tiền ngân sách.
* Vậy thì những lộn xộn mà lễ hội gây ra?
- Nói thật nhé, lễ hội mà không chen chúc thì buồn. Lễ hội mà không có “móc túi” thì thất bại. Bạn cứ ngẫm mà xem.
Tôi làm lễ hội để thỏa mãn cá nhân
* Ông là người tiên phong đưa nghệ thuật đương đại vào các lễ hội truyền thống. Nhiều người cho rằng điều đó làm mất đi sự linh thiêng thậm chí là phỉ báng thánh thần!
Lễ hội Tịch Điền 2010
- Trong quan niệm lý thuyết về lễ hội của tôi không có sự bóc tách giữa phần lễ và phần hội. Tất cả các thành tố của lễ hội (từ kiến trúc thờ tự, nghi trượng - nghi vật, đến những yếu tố văn hóa phi vật thể như cúng tế, rước sách, nghệ thuật dân gian, diễn xướng dân gian, thậm chí đến vui chơi và ăn uống cộng cảm) đều góp phẩn biểu tượng hóa cái linh thiêng. Những gì được coi là cái mới mà tôi đưa vào lễ hội như các diễn xướng bọc trứng nở ra 3 ông rắn, 3 ông rắn múa lượn dưới hồ nước trong lễ hội đền Lảnh Giang, hoặc hội thi vẽ trâu, diễn xướng “vua nhập thế đi cày” trong lễ hội Tịch Điền đều liên quan đến các huyền tích và đều được làm theo cách hướng thần, tức chúng liên quan đến lễ nghi. Điều này hoàn toàn khác về bản chất so với những hoạt động mà ta thường gọi là phần hội như các trò thi đấu thể thao, hay biểu diễn văn nghệ phục vụ bà con trong các lễ hội.
* Nhiều người gọi ông là ‘’ông lễ hội’’. Ông nghĩ như thế nào về danh hiệu không chính thức mà công chúng dành cho mình?
- Tôi chưa nghe thấy ai nói về mình như vậy. Thực lòng, tôi làm lễ hội là để thỏa mãn sở thích của mình và với một chút hi vọng đóng góp một phần vào việc thúc đẩy để lễ hội sống được cùng cộng đồng trong thời buổi kinh tế thị trường sôi động hôm nay.
Thiên Pax (thực hiện)