Thế giới

GS-VS Đào Thế Tuấn: Anh hùng nông học giữa Hà thành

02/08/2010 14:17 GMT+7 Google News
(TT&VH) - Nhắc đến GS-VS Đào Thế Tuấn là nhắc đến một Anh hùng Lao động đã dành cả cuộc đời khoa học gắn bó với đồng ruộng, với người nông dân. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của ông đã trở thành sách giáo khoa, cẩm nang của giới khoa học nông nghiệp nước nhà.

GS-VS Đào Thế Tuấn sinh ngày 4/7/1931 tại thành phố Huế, nguyên quán ở Khúc Thủy, Thanh Oai, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Ông là con trai cả của cụ Đào Duy Anh, một trong số ít nhân vật Việt Nam được ghi tên vào bộ từ điển Larousse với tư cách là một nhà bách khoa toàn thư của thời hiện đại.

“Cha đẻ” của nhiều giống lúa năng suất cao

Năm 1953, Đào Thế Tuấn là một trong 50 cán bộ đầu tiên được cử sang Liên Xô, ông học tại Trường Đại học Nông nghiệp Tachkent.


GS-VS Đào Thế Tuấn
Năm 1958 ông viết luận văn kỹ sư nông nghiệp, khi chấm luận văn này Hội đồng khoa học của trường đã quyết định “phá lệ” cấp bằng Tiến sĩ Nông học cho ông. “Như vậy tôi đã tiết kiệm được 3 bước tương đương khoảng thời gian 3 năm vì theo nguyên tắc, muốn bảo vệ luận án TS phải tốt nghiệp ĐH, đi công tác một thời gian và phải thi vào nghiên cứu sinh” - GS-VS Đào Thế Tuấn nói. Năm 1958 ông về nước, hơn 50 năm, cả sau khi nghỉ hưu năm 2006, GS-VS Đào Thế Tuấn vẫn miệt mài cùng cộng sự tiến hành nghiên cứu chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững; xây dựng các mô hình để mô phỏng sự phát triển, đặt cơ sở cho việc phát triển phương pháp nghiên cứu mới và tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường để giúp nông dân giải quyết khó khăn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế hộ.

GS-VS Đào Thế Tuấn đã nghiên cứu tìm ra quy luật tạo thành năng suất của các ruộng lúa năng suất cao, đặt cơ sở cho việc thâm canh lúa năng suất cao ở nước ta. Năm 1983, GS-VS Đào Thế Tuấn sáng lập bộ môn Hệ thống nông nghiệp. Đây là hướng nghiên cứu mới của khoa học nông nghiệp trên quan điểm hệ thống bao gồm hệ sinh thái và hệ thống kinh tế - xã hội ở các vùng khác nhau. Ông nghiên cứu và đề xuất hướng chọn giống cây trồng chịu được điều kiện bất thuận (hạn, úng, mặn, rét, sâu bệnh...). Từ hướng này các nhà nông học nước ta đã tạo được 7 giống lúa đáp ứng yêu cầu thâm canh ở nhiều vùng sinh thái khác nhau...

Đô thị hóa ở Thăng Long - Kẻ Chợ

Tuy là một GS nông học nhưng GS-VS Đào Thế Tuấn có những hiểu biết uyên thâm về văn hóa lịch sử Hà Nội. Theo ông, phần lớn thủ đô của các nước Đông Á đều được xây dựng theo mô hình kinh thành của Trung Quốc, tuy nhiên, thành Thăng Long không theo mô hình này. Thăng Long bắt đầu phát triển kể từ thế kỷ 14 với tên gọi dân gian là Kẻ Chợ có 5 đến 6 bến tàu và mạng lưới gồm 8 chợ vào thế kỷ thứ 16 và 4 chợ mới vào thế kỷ thứ 19 ở tất cả các cửa ngõ ra vào thành. Thăng Long được chia thành nhiều phường, mỗi phường phát triển một nghề thủ công. Vào thế kỷ 13, thành phố có 61 phường, nhưng đến thế kỷ thứ 16 chỉ còn lại 36 phường.
 
Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, một đặc điểm của Thăng Long là các phường ở trung tâm thành phố lại do dân từ các làng nghề châu thổ sông Hồng đến buôn bán rồi định cư lập nên các phường nghề. Trong khi đó các làng ven đô của Thăng Long lại rất bảo thủ. Dân các làng này hoặc có nguồn gốc sở tại, hoặc đã di cư đến từ lâu theo yêu cầu của triều đình, định cư để phát triển nông nghiệp hay xây dựng các làng nghề. Các làng này đã lưu giữ các tập quán của làng Việt Nam rất chặt chẽ. Sau này trong quá trình đô thị hóa đã để mất các nghề truyền thống, chuyển sang buôn bán phục vụ cho yêu cầu của thành thị.


GS-VS Đào Thế Tuấn trong lễ nhận Huân chương Công trạng của Chính phủ Pháp
GS-VS Đào Thế Tuấn đã được nhận Huân chương Công trạng nông nghiệp và Huân chương cành cọ Hàn lâm của Pháp (1991). Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Liên Xô (1985). Giải thưởng quốc tế René Dumont dành cho các nhà nông học các nước đang phát triển (2003). Tháng 9/2000, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Tháng 7/2009ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vì đã có những cống hiến trong nông nghiệp.
Thế kỷ 20, và nhất là trong thời kỳ đổi mới, Hà Nội diễn ra quá trình đô thị hóa vùng ven, sau một thời gian quá trình này bị chững lại. Nghiên cứu của GS-VS Đào Thế Tuấn cho thấy trong 2 thập niên gần đây, xung quanh Hà Nội đã hình thành 3 vành đai. Vành đai 1: gồm các làng gần sát Hà Nội và đang chờ đô thị hóa. Đầu cơ đất là hoạt động kinh tế chính tại đây.

Vành đai 2: gồm các làng ở xa thành phố hơn, chưa có điều kiện đô thị hóa, đang phát triển nhanh, có hoạt động phi nông nghiệp ở các làng nghề truyền thống hoặc mới thành lập. Những cụm ngành nghề này đang bị đô thị hóa tự phát mà chưa có quy hoạch, tạo nên quá trình đô thị hóa phi tập trung ở vùng ven Hà Nội với vành đai cụm công nghiệp và nông nghiệp rất năng động. Quá trình này đã dẫn đến nhưng thay đổi về cơ cấu trong vùng dựa trên nội lực.

Vành đai 3: gồm các làng ở xa thủ đô, không có mối quan hệ kinh tế trực tiếp với thủ đô. Hoạt động chính ở đây là nông nghiệp và thu nhập của người dân thấp. Đàn ông và phụ nữ trẻ rời bỏ làng để lên thành phố tìm việc, giao việc làm nông lại cho phụ nữ đứng tuổi và người già. Nền nông nghiệp ở đây mang tính quảng canh và không có chăn nuôi.

Bài toán “tam nông” thời kỳ đô thị hóa

Trước mục tiêu là năm 2020 nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp. GS-VS Đào Thế Tuấn cùng đồng nghiệp đã xây dựng một mô hình dự báo sự phát triển đến 2020. Kết quả cho thấy nếu GDP là trên 8 % năm thì đến 2020 nông nghiệp chỉ chiếm khoảng gần 10% GDP, như vậy có thể coi là bắt đầu trở thành một nước công nghiệp.

Tuy vậy, tỷ lệ đô thị hóa của nước ta chưa đến 50% (theo Bộ Xây dựng là 45 %). Như vậy là tốc độ đô thị hóa của nước ta sẽ chậm hơn công nghiệp hoá như các nước đang phát triển khác, thêm vào đó tỷ lệ sinh đẻ trong thời kỳ công nghiệp hóa còn cao (trên 2% năm), tạo ra số lao động thừa ngày càng cao. Vì vậy lúc đã trở thành một nước công nghiệp, tỷ lệ nông thôn và đi đôi với nó là nông nghiệp vẫn còn quan trọng. Đây là một điều mà nhiều người ít ngờ đến vì cho rằng vai trò của nông nghiệp sẽ giảm đi trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.

Theo GS-VS Đào Thế Tuấn, việc điều chỉnh lại tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa là biện pháp hữu hiệu nhất để giải quyết các mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trong vấn đề đất đai và lao động. Việc xây dựng các khu công nghiệp quá nhanh và đô thị hóa quá nhanh sẽ là một sự lãng phí lớn trong lúc chưa có một hướng công nghiệp hóa mới. Nhiều đô thị mới đang ở trong một tình trạng “giả tạo” chưa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển toàn diện của cả nền kinh tế. Lấy đất xong, nhưng chưa chuyển đổi được cơ cấu lao động vì chưa chuyển đổi được cơ cấu kinh tế.

Nông nghiệp vẫn sẽ là cứu cánh giúp các nước ra khỏi cuộc suy thoái kinh tế, nhu cầu lương thực ngày sẽ càng tăng nhanh dù có khủng hoảng kinh tế hay không. Theo dự báo, dân số thế giới hiện nay là 6,8 tỷ người, vào năm 2050 sẽ là 9,1 tỷ người và nhu cầu thực phẩm sẽ tăng gấp đôi hiện nay.

Công nghiệp hóa dựa vào nông nghiệp sẽ là mô hình có ưu thế cạnh tranh ở Việt Nam, tạo được sự phát triển bền vững. Du lịch nông thôn cũng là một biện pháp trong phát triển đô thị, nó có thể tăng gấp đôi thu nhập của nông dân, tạo việc làm và thúc đẩy nâng cao chất lượng của nông nghiệp. “Mô hình đô thị hóa hiện nay đang phổ biến ở châu Á không phải là phát triển các siêu đô thị (trên 8 triệu dân) mà là mô hình đô thị hóa phi tập trung bao gồm các thị trấn và thị tứ nhỏ có một vành đai nông nghiệp bao quanh. Hà Nội cần phát triển theo mô hình này”, GS-VS Đào Thế Tuấn khẳng định.

Nguyễn Yến

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm