Văn hoá

Đặt vấn đề bản sắc: Để nhận dạng văn hóa

16/09/2009 23:11 GMT+7 Google News
(TT&VH Cuối tuần) - 1. Tôi không mấy khi nghĩ đến chuyện bản sắc dân tộc. Liệu có cần thiết không khi mình là người Việt Nam, lại sống ở ngay trên quê hương mình? Khi ra nước ngoài thấy mình thật lạc lõng, tôi chợt nhận ra cái bản sắc mình mang trong người nó gây ra không biết bao nhiêu khó khăn cho việc hòa nhập. Mình khác quá. Ăn khác, uống khác, cử chỉ khi giao tiếp khác, cách sống với những lề thói khác. Mình là người nước nhỏ, không thể bắt người ta theo mình mà là ngược lại. Đi giữa thành phố London mà muốn chứng tỏ mình là người Việt Nam thì thật nực cười.


Phở

Bản sắc là một cái gì tự nhiên và cũng thật trừu tượng nếu ta nói đến con người. Cái quần cái áo đôi khi cũng chẳng có ý nghĩa gì khi ta muốn phân biệt. Tôi đã thấy một thiếu nữ Nhật mặc áo dài Việt Nam còn Việt Nam hơn cả một cô gái Việt đi trên đường phố Sài Gòn.

      Hội nhập, quốc tế hóa là quá trình không thể đảo ngược, đặt vấn đề bản sắc để vỗ ngực ta đây là người Việt Nam vô tình tách biệt mình ra khỏi thế giới có thể là một sai lầm nghiêm trọng.
Như mọi thứ trên đời này, bản sắc không phải là bất biến. Bản sắc của người Việt hôm nay chẳng thể giống hoàn toàn với người Việt của trăm năm trước. Lấy cái “tĩnh” đè lên cái “động” có phải là một cách tư duy hợp lý? Và Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, người Việt Nam đâu chỉ là người Kinh, hơn sáu mươi dân tộc khác có phải là người Việt Nam không?  Nếu họ cũng là người Việt Nam thì liệu có chung một bản sắc không? Vậy thì ta đặt vấn đề bản sắc ra theo một kiểu nào đó không khéo lại rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, làm mờ đi bản sắc của những dân tộc nhỏ hơn cùng cư trú trên lãnh thổ Việt, một thứ chủ nghĩa kiểu “đại Hán” không thể chấp nhận được, hoặc rơi vào chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cản trở sự phát triển của xã hội trong quá trình hội nhập rất quan trọng hiện nay tức là cản trở sự tiến bộ. Hội nhập, quốc tế hóa là quá trình không thể đảo ngược, đặt vấn đề  bản sắc để vỗ ngực ta đây là người Việt Nam vô tình tách biệt mình ra khỏi thế giới có thể là một sai lầm nghiêm trọng. Vậy theo tôi cách đặt vấn đề bản sắc dân tộc nên chỉ ở mức “nhận dạng văn hóa” các dân tộc cư trú trên lãnh thổ Việt Nam để thấy được cái riêng, nét đặc sắc quý giá cần phải bảo tồn, điều mà trong quá khứ chúng ta đã làm rất tốt, mong sao có được chút “vốn liếng để đi chợ”, có cái để mà trao đổi trong thời buổi toàn cầu hóa, đáp ứng điều mà dẫn đề đã nói rất rõ: “Xu hướng hội nhập dẫn tới chủ nghĩa quốc tế trên mọi lĩnh vực, mặt khác làm nổi rõ nhu cầu về bản sắc dân tộc. Bởi nếu không có điểm chung (tính quốc tế) thì không thể giao lưu, nhưng nếu không cái riêng (bản sắc dân tộc) thì không có nhu cầu trao đổi”.


và Áo dài - Một nhận diện Việt Nam

2
. Tôi không phải là một nhà nghiên cứu về văn hóa nên hiểu biết không thật sâu. Theo thiển nghĩ của tôi, thật ra chẳng có cái gì là thuần Việt cả. Trong một không gian địa lý không cách biệt mà sự pha trộn lại diễn ra hàng ngày, những yếu tố văn hóa có tính chất chung đụng (văn hóa bản địa Đông Nam Á như văn hóa Chàm, Khơ Me, Mã Lai v.v... từ miền Trung trở vào) hoặc ngoại lai (văn minh phương Tây thông qua sự hiện diện của người Pháp ở Việt Nam thời kỳ thuộc địa, văn minh Trung Hoa một nghìn năm Bắc thuộc) dĩ nhiên phải ảnh hưởng qua lại. Cuối cùng vẫn là cái gốc, cái hạt nhân có thể là bé tí nhưng quan trọng, hay nói một cách trừu tượng là cái tinh thần Việt, cái tinh chất Việt.

Tinh thần Việt, tinh chất Việt thường hiển lộ ở lời nói (ngôn ngữ) - “Tiếng Việt còn thì nước ta còn”), ở cái chuyện ăn uống, khẩu vị (các thức quà, cách làm cỗ, những món đặc sản và các loại nước chấm không giống ai như mắm tôm với cái hương vị chỉ có người Việt mình mới thưởng thức được), ở nhà cửa có kiến trúc tôn giáo (chùa, miếu, đình làng mà những công trình tiêu biểu như chùa Thầy, Bút Tháp, đình Tây Đằng, đình Bảng v.v..) và kiến trúc dân sự tiêu biểu là nhà cổ bức bàn với hòn đấu nóc (ông Phái đã luôn vẽ nó trong các bức tranh vẽ phố cổ của mình), với dãy cửa gỗ bức bàn chạy suốt mặt tiền nằm trên bậu cửa cũng bằng gỗ cao chừng bốn tấc Tây, ta phải nhấc chân khi bước vào v.v...; ở âm nhạc và sân khấu như Dân ca quan họ Bắc Ninh (tuy nó có pha chút ít yếu tố Chàm), như Chầu văn, Xẩm chợ, Ca trù, như chèo cổ, rối nước; ở múa như những điệu múa đình ở Thái Bình (múa bát giật, múa giáo cờ giáo quạt v.v...); ở hội họa như tranh Đông Hồ, Hàng Trống; ở điêu khắc như tượng chùa Mía, ở văn học có thể thơ lục bát v.v... Đấy là cái vốn cực kỳ quý giá chúng ta phải giữ gìn, nghiên cứu thấu đáo để thế hệ sau này còn có thể tiếp xúc với nguyên bản, nguyên trạng. Thế nhưng núp dưới khẩu hiệu bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, đậm đà bản sắc dân tộc, một số cơ quan văn hóa và du lịch cùng một số người do hiểu biết hời hợt và có thể do trục lợi đã làm cho tinh thần Việt phai nhạt dần và tinh chất Việt mất đi trong các việc làm của họ. Chúng ta đang mất dần không gian Phật giáo chùa Hương, Yên Tử, không gian cồng chiêng Tây Nguyên, “quan họ văn công” đang làm mờ đi quan họ thật, đình chùa cổ mỗi lần được trùng tu bảo tồn là mỗi lần bị làm “xuyên tạc”, những cổ vật từ viên gạch, mảnh ngói cho đến pho tượng Phật cổ kính lần lượt “đội nón” ra đi để bước vào các tiệm đồ cổ và những phòng sưu tập tư gia, thay thế nó là đồ giả cổ rẻ tiền... Điều này báo chí đề cập đến nhiều, và trong bài dẫn đề của tiến sĩ Phó Đức Tùng, bài tham gia Diễn đàn Văn hóa của nhà văn Nguyên Ngọc đã nêu lên một cách rất cụ thể.

Vậy vấn đề của việc giữ gìn bản sắc dân tộc lại chính là việc chống lại những kẻ đang lợi dụng nó để trục lợi, và cảnh báo cho những người nhận thức hời hợt nhưng lại rất nhiệt huyết vô tình làm hỏng nó mà không biết.

Xu hướng hội nhập một mặt dẫn tới chủ nghĩa quốc tế trên mọi lĩnh vực, mặt khác làm nổi rõ nhu cầu về bản sắc dân tộc. Bởi vì nếu không có những điểm chung nhất định (tính quốc tế) thì không thể giao lưu, nhưng nếu không có cái riêng (bản sắc dân tộc) thì không có nhu cầu về trao đổi.

Nguyễn Việt (Bạn đọc)

Cùng chuyên mục

Có thể bạn quan tâm

Đọc thêm