(TT&VH Cuối tuần) - Nhạc sĩ Dương Thụ nói ông chưa khi nào có ý định làm một album bài hát riêng của mình. Album nếu có, là ca sĩ làm album của họ, có hát bài của ông. Đã lâu chưa thấy album như thế xuất hiện. Tháng Bảy, ông ra Hà Nội thu âm album mới cho ca sĩ Đức Tuấn, được tiết lộ là Đức Tuấn lần đầu tiên hát nhạc Dương Thụ, những bài mới. Chưa biết album ấy bao giờ hoàn tất, bao giờ ra mắt, nhưng nhạc sĩ thì bất ngờ ra mắt... sách. Cà phê... mưa (NXB Văn học và công ty Nhã Nam ấn hành) dày tới gần 700 trang, in khổ lớn với 4 “chương”: Chương 1 là những tạp bút về Hà Nội, Phố, Làng, Chuyện đời...; Chương 2 là những bài viết về nghệ thuật; Chương 3: Trò chuyện và Đối thoại và Chương 4 là bản thảo 15 bài hát.
Cũng giống như viết nhạc, với ông, “Viết không phải để làm nhà văn mà để gần hơn với mọi người bằng những điều mình đã sống qua, đã hiểu, đã yêu, đã buồn bã và đau khổ. Viết là để đi tìm bạn...”, đọc Cà phê mưa có cảm giác giống như nghe bài hát của ông khi... không có nhạc. Xin giới thiệu một trong số những tạp bút của Cà phê mưa, mà tác giả gọi nó “như một bài hát buồn”.Cuối tháng Tư năm 1989, một chú em lưu lạc đột ngột gõ cửa nhà tôi, lúc tôi đang ở đường Thánh Mẫu, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Cuộc gặp này được tôi ghi lại, phảng phất như một bài hát buồn.
- Ở thị xã Tuyên Quang có một nơi đẹp nhất: Xóm nhà thờ. Chắc chú nhớ chỗ ấy.
- Có chứ anh.
- Sau lưng xóm là nghĩa địa Thánh, và hình như nếu đi tiếp nữa thì đến bờ sông Lô. Ước gì có tiền, mua một mảnh đất trong xóm ấy, làm một căn nhà nhỏ, anh sẽ đưa cháu về sống ở đấy.
Tôi nói mà lòng buồn rười rượi. Cái xóm vắng quạnh quẽ trên đồi, tiếng chuông chiều, con đường đầy lá rụng ẩm ướt sau những trận mưa giông đầu mùa Hè. Xóm Đạo bé nhỏ này, bao giờ cũng thế, nó cứ núp sau nỗi buồn tôi. Nỗi buồn bước qua ngưỡng cửa là nó kế bên liền.
Người hứng chuyện là một chú em, dân thị xã Tuyên Quang thất nghiệp lưu lạc vào đây. Khi tôi ngoài ấy, chú còn nhỏ, chỉ biết là chú mê nhạc, nuôi giấc mộng trở thành nhạc sĩ. Thế mà giờ thì... đi làm thuê cho các chủ ghe ngoài Vũng Tàu. Ba mươi tuổi rồi, chưa vợ con, chẳng một nghề nghiệp nhất định, biết chơi ghi ta cổ điển và nhớ như in những điều nghe lỏm về Chopin, Schumann, Schubert, Beethoven mà tôi thường nói chuyện với những người anh của chú.
Khi nghe thấy tôi ước ao được trở về Tuyên Quang, chú nhìn thẳng vào mắt tôi, ngạc nhiên:
- Sao thế anh? Em thấy ở trong này thoải mái hơn chứ? - Chú ngập ngừng nhìn tôi như có ý đắn đo trước khi nói tiếp.
- Trong này, đất khách quê người, tuy có buồn, có khổ nhưng vẫn thấy dễ chịu. Dân lang thang như em, quen sống bấp bênh, bữa no, bữa đói rồi. Cái số kiếp mình nó là như thế, anh ạ... thành thử cũng chẳng thấy có chuyện gì cả. Ở ngoài ấy, có gia đình, có bạn bè và những người xóm giềng biết em từ lúc em mới đẻ. Họ có ý nghĩ cố định về em, họ để ý em để đem so cái thằng K. (bây giờ tôi mới nhớ ra tên chú) 1 đang sống sờ sờ trước mắt họ với cái thằng K. họ nghĩ lẽ ra phải như thế. Nếu em không thành như họ muốn, có nghĩa em là đồ bỏ đi, một thứ giẻ rách. Bọn bạn em, đứa thành kỹ sư, bác sĩ, đứa đi xuất khẩu lao động khi về nào là xe Sim Sơn, máy khâu, bàn là điện, nồi áp suất bán đi làm vốn để lập nghiệp. Còn em vẫn chẳng có nghề ngỗng gì, chẳng xu dính túi, ban ngày đi làm công nhật, tối ngồi một xó ôm cây ghi ta cũ rích mà bật bông. Người ta chẳng làm gì mình vậy mà khổ tâm lắm anh ạ. Nghĩ cho cùng, em thấy ở trong này ổn hơn nếu là có gan sống một mình chứ không thì... - Rồi chú hạ giọng. - Ngoài ấy mọi người xúm đến hành hạ mình, còn ở trong này mình lại bị bỏ rơi, anh có thấy thế không?
Có tiếng nhạc từ phòng trong, một bản nhạc mà cả tôi lẫn chú đều thích, bản Nocturne cung Đô thăng thứ của Chopin, con gái tôi bật máy cassette, vô tình mở cuộn băng tôi mới sao lại của một người bạn Hà Nội.
Chú em ngừng lời. Bản nhạc như nói thật rõ cái im lặng mà chú đột ngột tạo ra. Chú ngồi đấy, những ngón tay gầy guộc thư sinh đan vào nhau, đặt ngay ngắn trên đầu gối, mắt thì như nhìn đi đâu. Hẳn chú đang theo đuổi những ý nghĩ của chú, còn tôi lại lan man về cái xóm nhà thờ.
Xóm nhà thờ, những căn nhà cũ kỹ xây từ thời Pháp thuộc nằm giữa những khu vườn um tùm cây ăn quả vùng bán sơn địa: cam, bưởi, mít, chuối, nhãn được trồng một cách lộn xộn.
Xóm nhà thờ, những rặng tre gai, mai, vầu trải dài ven đồi, chúng thật nhiều lời trong những ngày cả gió.
Xóm nhà thờ, tiếng cổng gỗ gió lay kẽo kẹt, tiếng ong bay giữa trưa mùa Đông se lạnh, tiếng chó sủa đêm xa vắng, tiếng điếu cày rít lên sòng sọc còn vang động hơn cả tiếng gà gáy sáng của một ông nào đó khi nào cũng loay hoay trở dậy trước giờ lễ sớm.
Xóm nhà thờ, những đôi mắt trẻ con và phụ nữ gợi ra một cái gì đó rất hiền hậu và thánh thiện, luống hoa huệ trắng trước sân, khóm hoa hiên vàng suộm nắng chiều và những bụi loa kèn đỏ lặng lẽ, người sống như tan biến trong hoa cỏ.
Ôi cái xóm đồi vời vợi...
- Em thích những bài hát anh sáng tác hồi ở Tuyên Quang. Anh chép ngay cho em có được không? - Chú đột ngột ngẩng lên hỏi tôi.
- Thế chú không nghe những bài hát mới của anh à?
- Có, thỉnh thoảng đi cà phê em cũng nghe thấy. Có một quán cà phê ở Vũng Tàu rất hay mở băng nhạc có bài của anh, nhưng em thích những bài ngày xưa của anh hơn.
Tôi cảm thấy tim mình nhói lên, không dám nhìn thẳng vào mắt chú nữa mà nhìn vào gầm ghế vờ như đang kiếm một cái gì đó mình vừa nhớ ra.
- Mai em lên tàu về ngoài ấy. Bố em bị bệnh nặng lắm. Chẳng biết khi nào em mới vào được.
Sao chú lại tìm tôi đúng lúc này để nói lên những lời như thế.
Về ngoài ấy; cái xóm nhà thờ buồn bã hiu quạnh; chú em mà tôi không nhớ tên, người mảnh mai gầy yếu, giữa cái thời đại mang nhãn hiệu “Sài Gòn” này lại chỉ thích nhạc cổ điển, thích cây ghi ta thùng, chú có biết chú làm tôi buồn như thế nào không?
***
Có tiếng còi tàu từ ga Hòa Hưng vọng lại. Thế là chú ấy đã rời Sài Gòn để về Tuyên Quang, mang trong túi xách nhỏ của mình không phải là hàng lậu mà là những bài hát cũ của tôi cùng dăm bộ quần áo chú mua được với giá rẻ của mấy bà bán đồ “lạc son” góc chợ Tân Bình, chỗ tôi dẫn chú đi chiều ấy. Đây là tất cả những gì kiếm được sau bốn năm lang thang ở một xứ sở được đồn đại là giàu có và tân tiến, một xứ sở cách đây không lâu vẫn còn nằm trong giấc mơ của chú.
Tôi nhìn khung cửa sổ chiều mùa mưa. Có lẽ đêm nay mưa lớn lắm. Bầu trời màu xám chì đang sẫm dần lại. Có phải bầu trời nơi chú về không? Xóm nhà thờ, cái hạt mầm ký ức đang bén rễ trong bóng tối nào, trong hồi còi tàu nào, trong tiếng chuông lễ nào, trong hạt mưa nào?
Ôi cái xóm nhà thờ của tôi... bao giờ... biết bao giờ...
Dương Thụ
TP.HCM tháng Tư năm 1989
(Trong Cà phê mưa, tạp bút này có tựa đề Ghi lại câu chuyện buồn)
(Trong Cà phê mưa, tạp bút này có tựa đề Ghi lại câu chuyện buồn)
(1) K. trở về và ở lại hẳn Tuyên Quang, không lâu sau mắc bệnh tâm thần và mất.
TT&VH Cuối tuần