Ánh sáng từ cuốn gia phả
Trong lúc vui chuyện, gia tộc còn biết: Năm xưa các cụ còn một bức hoành phi nữa, nhưng do đời sau gia cảnh khó khăn đã bán mất, may mà đôi câu đối mang nội dung quá hiển hách, không ai dám mua về, nên còn lưu giữ được treo ở nhà thờ Tổ đến nay.

Lần sau ra chơi thăm, may có cụ Chiểu người xóm bên sang chơi, biết vọng của tôi muốn được chiêm ngưỡng bức hoành phi cổ quý giá, cụ Chiểu đã vui lòng dẫn tôi sang nhà thờ Phạm ở cùng xã, nơi mua được và treo trang trọng trên ban thờ. Tôi bàng hoàng sững sờ, xúc động và mừng khôn xiết khi thấy 4 chữ thiếp vàng rực sáng trên cao: Dịch Thế Thư Hương (Đời đời vinh quang nhờ văn chương sách vở).
Chúng tôi xin phép kê bàn ghế cao lên để đứng đọc hai dòng lạc khoản thì thấy còn mờ mờ dòng chữ khắc bên phải là: Càn Long Tân Tỵ, Lạp tiền nhất nhật sách phong Chánh sứ Đức Bảo đề. Bên trái là: Minh Mệnh Giáp Ngọ… vọng phụng… ư Vĩnh Tường tân tu.

(sau đó được khắc lên bức hoành phi này)
Không còn nghi ngờ gì nữa, thông tin trong gia phả và bức hoành phi cổ thật cùng khớp và có thể kết luận chính xác rằng: đây là bức hoành phi “Dịch Thế Thư Hương” do Chánh sứ của vua Càn Long là Đức Bảo viết tặng cụ Tể tướng Nguyễn Nghiễm vào trước tháng Chạp năm Tân Tỵ (1761) một ngày (sau đó được khắc lên bức hoành phi này).
Gia đình cụ Thinh và cụ Bình rất phấn khởi khi được chúng tôi và cán bộ Bảo tàng Nguyễn Du khẳng định việc chắp nối dòng họ Nguyễn Tiêu Sơn vào dòng đại tông Nguyễn Tiên Điền và gia tộc đã nhờ thợ giỏi làm phiên bản bức hoành phi và đôi câu đối cung tiến về nhà thờ họ Nguyễn Tiên Điền.
Bản truyện kiều chữ nôm vào hàng cổ nhất
Khi hỏi về sách vở của các Quan Phủ xưa, hậu duệ cụ Nguyễn Trừ cho biết “Trước còn một cuốn gia phả, nhưng đến năm lụt 1971 thì thất lạc mất, may còn một cuốn Truyện Kiều nhưng cũng nát lắm rồi”.
Chúng tôi mừng rỡ khôn xiết, run run “cảo thơm lần giở trước đèn”, thấy đây thực là một bản Truyện Kiều cổ, khắc ván in trên giấy bản, có kích thước 12cmx17cm. Lại còn quý hơn các bản Kiều cổ đời Tự Đức vì không viết kỵ húy tên vua Gia Long là “Chủng” (âm Nôm là “Giống”) và cũng chẳng kỵ húy chữ “Lan” là tên mẹ Vua Gia Long. Việc kỵ húy vua Tự Đức cũng không được thực hiện nghiêm chỉnh.
Do vậy có thể suy luận bản Truyện Kiều này khắc vào cuối đời Thiệu Trị - đầu đời Tự Đức (1847-1848), nghĩa là vào hàng cổ nhất trong số các bản Kiều sưu tập được hiện nay.
Mong ước đoàn tụ trong dòng họ Đại thi hào Nguyễn Du
Chúng tôi trân trọng tặng gia tộc bản “Hoan Châu, Nghi Tiên, Nguyễn gia thế phả”, cụ Bình xúc động đón nhận và đã tổ chức đánh vi tính lại toàn văn, sao nhiều bản giao cho mỗi gia đình giữ một bản để “nối mạch cội nguồn”.
Họ Nguyễn Tiên Điền có dòng dõi từ Trạng nguyên Nguyễn Thuyến đời nhà Mạc ở Canh Hoạch trấn Sơn Nam, trải nhiều đời ở Hồng Lĩnh – Lam Giang vẫn tiếp nối được truyền thống khoa bảng, văn võ toàn tài của tổ tiên mà dân Hoan Châu đã ca ngợi:
Bao giờ ngàn Hống hết cây
Sông Lam hết nước, họ này hết quan