(TT&VH Cuối tuần) - Trưa ngày 10/11/2008 ở nhà hàng nổi tiếng Drouant, Chủ tịch Didier Decoin thông báo người đoạt giải Goncourt – giải văn học danh giá nhất của Pháp - năm 2008 là Atiq Rahimi, tác giả cuốn Syngué sabour. Ông cho biết thêm hầu hết các thành viên hội đồng chấm giải bỏ phiếu cho Atiq Rahimi đều dựa trên ba điểm:
1. Tác giả gốc Afghanistan này đã chọn tiếng Pháp để sáng tác
2. Tội dung tác phẩm hết sức mạnh bạo
3. Bút pháp rất hấp dẫn.
![]() Atiq Rahimi (giữa) ở bên ngoài nhà hàng Drouant tại Paris trưa ngày 10/11/2008 sau khi Hội đồng giám khảo giải Goncourt thông báo ông là người đoạt giải năm 2008 |
Khi Atiq Rahimi trở về Afghanistan sau mấy năm xa nhà, thì mắt ông chỉ thấy một đất nước đang chìm trong cuộc nội chiến: “Đổ nát và đổ nát, không còn gì nữa cả, ngoại trừ Trung tâm văn hóa Pháp-Afghanistan ở Kabul”. Nhờ trung tâm này, ông “khám phá được nền điện ảnh Pháp, các đạo diễn Sautet, Godard, các bộ phim Pierrot Le Fou, La Femme En Bleu của Michel Deville và Hiroshima Mon Amour của Resnais”. Qua đó, Atiq Rahimi chú tâm học văn và điện ảnh, rồi học tiếp hai khoa này khi cùng gia đình sang Pháp định cư năm 1985. Từ đó tới nay, ông trở thành nhà văn và đạo diễn. “Tôi không bao giờ thấy lạc lõng chút nào ở đây”, Atiq Rahimi nói.
Nhưng ba cuốn tiểu thuyết ông sáng tác trước tác phẩm vừa trúng giải đều viết bằng tiếng Afghanistan và đã được chuyển ra tiếng Pháp: Terre Et Cendres (Đất cát và tro bụi, 2000 - cũng là nội dung bộ phim cùng nhan đề của ông), Les Mille Maisons De Rêve Et De La Terreur (Ngàn ngôi nhà mơ mộng và kinh hoàng, 2002) và Le Retour Imaginaire (Ngày về ảo huyền, 2005). Phải đợi tới tác phẩm thứ tư vừa trúng giải Goncourt, ông mới viết bằng tiếng Pháp.
![]() Hai anh em Edmond và Jules Huot de Goncourt |
Hòn đá thần này vốn có trong các truyện thần thoại Ba Tư. Người ta có thể thổ lộ cùng nó mọi đau khổ, bất hạnh, những điều không dam bôc bac h cùng ai. Hon đa thân tiêp nhân không bỏ sót lời than tiếng oán nào, kiên nhẫn nghe hết cho tới lúc quá tải, tức nước vỡ bờ, nổ tung, giải tỏa khổ hạnh mà đương sự phải gánh chịu từ xưa đến nay. Trong câu chuyện kể của tác phẩm trúng giải, người chồng bại liệt đóng vai hòn đá thần. Người vợ bị phong tục khắt khe và ông chồng gia trưởng đày đọa ma không co cơ hội giai thoat nay đươc tư do phát biểu. Nhờ đâu mà người đàn bà này phát hiện được chính mình và, đồng thời, tình cảnh bi đát của phụ nữ Afghanistan hằng bị xem như vật vô tri, không lai lịch, không thân mình, giấu mặt đằng sau một tấm màn. Trong khi họ cũng có xác thịt, cũng ham muốn và có tình cảm như bất kỳ người đàn bà nào khác trên cõi đời này.
Người vợ đã kể lể gì với “hòn đá thần”? Tiểu thuyết thuật chuyện một người phụ nữ Afghanistan, giữa thành phố đổ nát bởi nội chiến, đã bị cánh đàn ông và cả mẹ chồng đay nghiến, hành hạ. Người vợ kể cho thân xác vô tri của ông chồng hết mọi điều thầm kín chưa bao giờ dám tiết lộ cùng ai. Giữa lúc có con ruồi bay vèo vào cái miệng khép hờ của ông chồng, có con nhện chui xuống dưới tấm vải trải giường, có ai đọc kinh Coran, có cô láng giềng giở chứng điên điên khùng khùng, có bọn đàn ông tới thăm: một lão mollah “ngu như bò”, hai chiến binh sẵn sàng cưỡng bức người vợ khi được dịp.
Từ trong gian phòng kín cửa của họ ngó ra ngoài kia là cả một thế giới đầy hăm dọa, hiểm nguy - thế giới của đàn ông và tôn giáo. Từ người cha, người chồng, chú bác cho tới anh em trai hợp thành xã hội trọng nam khinh nữ, họ luôn nắm tay nhau, đồng lõa với nhau dìm cánh đàn bà con gái vào tình cảnh khổ nhục triền miên.
* Bút pháp
Cuốn sách hết sức ngắn gọn (155 trang), với một bút pháp, văn phong phù hợp, dễ đọc. Câu văn cũng ngắn, gọn, nhiều lúc không có động từ, tính từ, trạng từ - hoàn toàn đối lập với loại câu lòng thòng, lắt léo kiểu Marcel Proust (1871-1922), ông tổ của nền tiểu thuyết Pháp hiện đại. Bà Francoise Chandernagor, thành viên Hội đồng giám khảo, tỏ rõ: “Cuốn Singué Sabour - Hòn đá thần thành công ngay từ bút pháp. Bút pháp của nó quả thật tuyệt vời, đến nỗi tôi cứ tưởng là do cánh phụ nữ chúng tôi san g tac . Đoc no, tôi thấy cam xuc vô ngân ”.
|
105 năm giải Goncourt (1903 - 2008) * Mỗi năm ở Pháp có tới 1.500 giải văn học lớn nhỏ được trao (kỷ lục thế giới), thế nhưng chỉ 4 giải thực sự có danh tiếng, gồm: 1. Le Grand prix du roman de l’Académie francaise (Giải thưởng Lớn dành cho tiểu thuyết của Viện Hàn lâm Pháp), sáng lập năm 1914, giá trị tiền thưởng hiện là 7.500 euro.
2. Femina (sáng lập năm 1904), do một HĐGK toàn nữ lựa chọn. 3. Medicis (ra đời năm 1958), dành cho những tác phẩm có “văn phong và giọng điệu mới”. 4. Prix Goncourt. Trong đó dĩ nhiên Prix Goncourt được chú ý hơn cả. Sau giải Nobel Văn học, đây là giải nổi tiếng thế giới, tương đương với Man-Booker (Anh), Pulitzer (Mỹ)... Hai nhà văn này thành lập Académie Goncourt (Viện Goncourt) vào năm 1869 và sau khi Edmond Huot de Goncourt qua đời năm 1896, theo di chúc để lại, viện này vào mùa Thu hàng năm sẽ trao giải Goncourt cho một cuốn tiểu thuyết của văn học Pháp. Giải Goncourt đầu tiên được trao ngày 21/12/ 1903. Trong số các tác giả đã được nhận giải có những tên tuổi lớn như Marguerite Duras, Patrick Modiano, Simone de Beauvoir hay Andre Malraux. * Suốt từ khi thành lập giải cho đến gần đây, khoản tiền kèm theo giải vẫn duy trì ở mức 50 franc (tình ra thường chưa đầy 10 USD). Kể từ khi đồng tiền chung châu Âu được lưu hành, khoản tiền kèm theo giải được ấn định ở con số “nực cười” là 7 euro. * Mặc dù giá trị tiền thưởng ít ỏi như vậy, song Goncourt từ lâu đã được coi là giải danh giá nhất của văn học Pháp, bởi đây không chỉ là giải văn học Pháp ngữ lâu đời nhất và được lựa chọn bởi một HĐGK uy tín nhất, mà vì giải này có giá trị tiếp thị rất mạnh: Nhà văn được trao giải lập tức trở nên nổi tiếng trên phạm vi thế giới, tac phâm sau đo se tăng gâp bôi sô lươn g phat han h va hâu hêt đươc dịch ra nhiều thứ tiếng. * Người đoạt giải Goncourt lần thứ 105 là Atiq Rahimi, nhà văn và nhà làm phim Afghanistan. Ở vòng chung khảo, Rahimi với cuốn tiểu thuyết tiếng Pháp đầu tay Syngué Sabour nhận được 7 phiếu bầu so với 3 phiếu dành cho Michel Le Bris với cuốn La beauté Du Monde (Vẻ đẹp của thế giới). |
Trần Thiện - Đạo (Paris)

