Thói hư tật xấu người Việt: Chế giễu bài bác trí tuệ

Thứ Ba, 31/12/2013 07:37

(Thethaovanhoa.vn) - Một người bạn tôi bảo: phần lớn truyện cười dân gian Việt Nam là những câu đùa cợt qua lại của mấy anh đói. Nghe cũng có lý, ở đây, đề tài ăn uống chiếm tỷ lệ khá lớn.

Chỉ có một bộ phận nhỏ truyện tiếu lâm đi vào ghi nhận tư duy của người Việt, chúng ta nông nổi, chúng ta hay lý sự cùn… Đòn đánh khá trúng.

Nhưng có thể thấy một số truyện đi vào chế giễu cả những đức tính tốt của con người và ngầm đề ra những triết lý bi quan.

Trời sinh ra thế là câu chuyện ông bố vợ với hai chàng rể, một làm ruộng và một học trò. Cuộc đối đáp của họ cho thấy dân gian muốn đi vào giải thích tại sao những sự vật quanh mình lại có đặc tính thế này thế kia. Tại sao con ngỗng cũng như con ễnh ương lại kêu to? Tại sao con vịt nổi mà cái thuyền cũng nổi? Điều đáng nói không phải là sự bất lực mà quan trọng hơn là sau đó, người ta đi tới kết luận “dốt đặc còn hơn hay chữ lỏng”. Tức là thôi không bàn nữa, cũng như không nên học. Học mà làm gì? Chũng ta cũng chẳng bao giờ học đến nơi đến chốn, âu là nghỉ cho khỏe.

Đã đành biết cái gì dở dang thì chẳng hay ho gì. Nhưng lẽ nào vin vào cớ rằng học hỏi hiểu biết rất khó, người ta tự bỏ luôn cả sự học?

Nhiều truyện tiếu lâm khác cũng có thiên hướng hư vô tương tự. Cả sự cẩn thận, sự lễ phép đều bị truyện Ba anh đầy tớ mang ra giễu. Anh đầy tớ nọ đang khiêng cáng cho ông chủ, được khen liền đặt cáng xuống để cảm ơn. Sự lễ phép quá vô duyên và con người sao quá ngớ ngẩn. Truyện Nói có đầu có đuôi thì bịa ra cảnh một anh bắt đầy tớ phải ăn nói cho mạch lạc, kết quả là cháy mất cái áo. Cái gọi là suy nghĩ nghiêm túc ở đây bị mang ra bài bác coi là không thiết thực, là có hại.

Nhiều người nước ngoài đến Việt Nam trước kia đã kín đáo nhận xét là người mình thích bài bác chế giễu những gì khác mình. Những nông nổi hồ đồ đó là một biểu hiện trẻ con, như chữ Tản Đà đã dùng.

Trong sự bài bác nói chung thường có cái lối “tự kỷ trung tâm luận”, coi mình là cái rốn của vũ trụ, cái gì mà mình không biết tức là không cần. Lại có cái tinh tướng không làm được thì không cho người khác làm, không ăn được thì đạp đổ.

Riêng việc chế giễu bài bác trí tuệ nó có liên quan đến những khó khăn trong việc đặt trí óc vào công việc, từ đó tạo nên bản năng tự phát trong suy nghĩ và hành động người Việt. Đời sống khó khăn luôn luôn khiến người ta sống trong chen chúc cạnh tranh. Song không sao tìm ra cách cạnh tranh lành mạnh. Thế là sinh ra ý hướng không muốn tuân thủ lối sống chuẩn mực, kiếm sống bằng đủ loại thủ đoạn, cũng như sinh ra thói cạnh khóe, chê bai nhau.

Đây là đặc tính của lớp người mà xã hội học gọi là những kẻ chầu rìa. Lớp người này không có khả năng làm giàu về vật chất. Trong sự bất mãn, họ liền tự khẳng định bằng cách tỏ thái dộ khinh miệt đối với nhân tố trí tuệ đạo đức và tinh thần con người, đối với những chuẩn mực đã định hình về sinh hoạt ứng xử, nói chung, đối với kiến thức và sự uyên bác.

Chúng tôi đã có lần nói rằng văn hóa Trung Hoa có truyền thống tôn trọng những người có văn hóa; nhưng ở đây cũng có một dòng nước ngược. Người Trung Quốc tự trào (đã dịch ra tiếng Việt, ở NXB Văn học 2000), cho biết người Trung Quốc không chỉ xu thời, cầu an, sẵn sàng hối lộ thần thánh hoặc rúc đầu vào cánh, cam chịu trước cuộc đời bất công… mà còn “coi nhẹ tri thức văn hóa, thù hằn tri thức văn hóa”.

Nhân bàn về tính giảo hoạt, những người viết sách khái quát “giảo hoạt là sự kết tinh thông minh, tài trí của người Trung Quốc, khuyết điểm lớn nhất của nó là đối lập chủ nghĩa lý tưởng với chủ nghĩa hành động, nó cười giễu mọi cố gắng của nhân loại…”.

Dân ta cũng vậy, do hoàn cảnh riêng của người Việt, những thói xấu này càng ăn sâu vào tâm lý, trở nên một căn bệnh không nặng nề nhưng dai dẳng khó chữa.

Sang thời hiện đại, đặc tính “cái gì cũng xem thường”, “khinh thế ngạo vật”, “ghét sự suy nghĩ dùng đến sách vở”…sẽ được một người như Nguyễn Công Hoan nối tiếp thực hiện.

Trong Đời viết văn của tôi, nhà văn này kể, từ nhỏ ông ham chơi và ngại học. Có lần làm bài bàn về hi vọng, ông viết ở đời tôi không có hi vọng gì rồi nộp thầy. Cái lò gạch bí mật của ông, kể một anh theo dõi một người có học, ra cái vẻ đang điều tra khoa học lắm, rút cục chỉ bắt gặp một anh “ị” bậy. Truyện thường bị kêu là tục tằn, tán nhảm. Nhưng phải nói cái chính là nó muốn chế giễu một lối sống nghiêm túc có tìm tòi suy xét trước mọi sự kiện chung quanh.

Đặng Thai Mai, một trong những người tạo ra khuôn thước cho văn học sau 1945 rất thích câu nói này của Carlyle Thomas: “Hoàn toàn ỉ thị vào trực cảm, vào bản năng là một thái độ kiêu căng điên rồ và nguy hiểm” (xem Đặng Thai Mai và văn học). Nhưng mẫu người viết văn như Đặng Thai Mai ngày càng hiếm. Các cây bút trẻ thích nói về năng khiếu trực cảm hơn sách vở.

Trong văn xuôi đương thời, các nhân vật có học thường được “ưu tiên” dành cho nhiều phẩm chất xấu, như xa đời sống, ngại lao động, ham hưởng thụ… và ở chỗ riêng tư người ta cười họ, cho họ là gàn, họ dại (!).

Vương Trí Nhàn

Ý kiến độc giả (2)
Sắp xếp theo
Gửi ý kiến
Chọn avatar
Họ tên*
Email*