Làm ăn kém nên nghèo, bởi nghèo nên xấu tính

18/12/2013 09:45 GMT+7

(Thethaovanhoa.vn) - Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật thích viết rằng những người làm tranh Đông Hồ chỉ là những người nông dân lúc rỗi rãi thì vẽ thêm tranh. Mục đích của họ cốt cho người ta thấy nghệ thuật ở Việt Nam “gắn liền với đời sống”.

Có biết đâu làm thế chỉ là một cách tốt nhất để phô ra một sự thật: trong xã hội Việt Nam, trình độ sống và làm việc là thiếu chuyên nghiệp. Không sớm có sự phân công lao động. Con người nhởn nhơ dông dài ngay trong sự chăm chỉ của mình.

Tình trạng của nghề làm tranh cũng là tình trạng của nghề dệt, nghề đúc đồng, nghề làm muối, nghề làm đồ gốm, cả nghề làm ruộng… Chỗ nào người ta cũng thấy sự ngưng trệ. Kỹ thuật cổ lỗ. Năng suất thấp.

“Cối xay tre, nặng nề quay, từ ngàn đời nay, xay nắm thóc”. Trong lời thuyết minh viết cho phim Cây tre Việt Nam 1995, Thép Mới từng viết một câu văn xuôi mang đầy chất thơ để hằn sâu vào tâm trí của nhiều thế hệ học sinh tiểu học như vậy. Vào những năm 50 của thế kỷ trước, nó gợi một cảm giác về sự nhẫn nại bất khuất kiên cường. Nhưng sang đến thế kỷ 21 này, đọc lại thấy dấu hiệu của một cuộc sống ù lì tăm tối.

Người Việt tự nhủ “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Ảo tưởng nhắc lại mãi nghe như có lý. Song khi người ta quá nghèo thì khó lòng giữ được sự tử tế. Chính nhiều người từ xa tới đến đây cũng sớm hiểu điều đó.



Trong cuốn Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài (1688), (bản của NXB Thế giới, 2006) một nhà thám hiểm người Anh là W.Dampirer ghi lại một nhận xét chung: “Cư dân ở đây rất lễ độ và thật thà với người nước ngoài, nhất là những người đến giao dịch và buôn bán. Những kẻ quyền quý thì tỏ ra kiêu căng, hách dịch và tham lam, trong khi đám lính tráng thì hỗn xược”.

Rồi ông ghi thêm: “Cư dân lớp dưới lại hay trộm cắp, làm cho nhà buôn và những người đến giao dịch ở đây bắt buộc phải canh gác cẩn thận về đêm”.

Điều đáng nói là W.Dampirer đã có cách riêng để giải thích hiện tượng này. Trước đó, nhà của người Việt ngay Kẻ Chợ, tức thủ đô, được tác giả mô tả là quá đơn sơ tầm thường. Nhà nhỏ và thấp. Mấy tấm phen che dột nát tạm bợ. Bên trong chia làm nhiều gian, mỗi gian có những cửa sổ để lấy ánh sáng thực chất là những lỗ đục xấu xí. Theo W.Dampirer, nhà cửa như vậy thường làm mồi cho bọn người trộm cắp. Chúng có thể dễ dàng thực hiện mưu đồ đào tường đào từng khoét ngách.

Khó lòng kể hết những dấu ấn mà sự thấp kém về trình độ sản xuất để lại trong tính cách người Việt.

Trước tiên là một tâm lý tự ti, mệt mỏi không thấy hứng thú trong lao động.

Đã nhiều người gặp nhau ở nhận xét là người Việt rất chăm chỉ năng động. Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ra tinh nhạy hơn người khi nêu cùng lúc cái tình trạng nước đôi: người Việt vừa cần cù, vừa cho người ta cảm thấy họ coi lao động là bất đắc dĩ, chẳng qua không có cách nào khác nên họ phải chân lấm tay bùn vậy.

Xã hội thiếu đi sự năng động tìm tòi.

Nhà Nho xưa nhiều người kiêm cả thầy lang.

Trong một lần so sánh văn hóa Trung Quốc và Việt Nam, Phan Ngọc nhắc lại cái ý mà nhiều thế hệ nho sĩ truyền miệng với nhau. Đó là một nhận xét của người Tàu: người Việt sống trên cả đống nguyên liệu dùng làm cây thuốc nhưng vẫn chết vì thiếu thuốc.

“Việc lớn thì kinh, việc nhỏ thì khinh, việc bình thường thì không thích”, thái độ người mình với công việc được Nguyễn Tất Thịnh cô lại trong một nhận xét thật gọn ghẽ (Tiền phong, 6/10/2006).

Nhiều nhân vật trong những truyện cười dân gian là những chàng lười. Ca dao hóm hỉnh dựng lại một chân dung, ngày nay ta tưởng là bịa, song thực ra rất sẵn trong nông thôn Việt Nam thời trung đại: “Con cò đậu cọc cầu ao/ Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng/ Chú tôi tốt tóc đen răng/ Hay ăn làm biếng, hay nằm ngủ trưa/ Ngày thì ngóng những ngày mưa/ Đêm thì ngóng những đêm thừa trống canh”.

Vốn rất thông minh và nhạy cảm nên không phải là người Việt không biết thực trạng kém cỏi trong công việc làm ăn sản xuất của mình. Nhưng do thiếu sự mỏ đường của trí tuệ nên người ta cảm thấy đó là cả một định mệnh.

Thấy của thiên hạ cái gì cũng hơn mình. Bất lực. Cay đắng. Chán chường.

Một niềm tự ti nằm rất sâu trong tâm lý, mang lại nhiều biến thái: lo học nhưng chỉ học mót, học lỏm; sợ người ta coi thường nên phải tìm cách nhấn mạnh cái riêng, và nhắc đi nhắc lại rằng mình chẳng kém gì mọi người. Sống gồng lên ra vẻ thế nọ thế kia, sẵn sàng giả dối cốt sao khỏi bị mất mặt.

W.Dampirer, trong cuốn sách của mình, còn ghi nhận một điều mà sau này các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam từ Phan Kế Bính, Đào Duy Anh tới Nguyễn Văn Huyên, Lương Đức Thiệp đều chia sẻ, là thói máu mê cờ bạc của người Việt. Giàu tham việc, thất nghiệp tham ăn, - khi rỗi rãi người ta lao đầu vào cuộc đỏ đen một phần là vì bế tắc trong cuộc sống. Toan tính duy nhất ở đây là ngẫu nhiên tìm được một cơ may giữa đời sống tuyệt vọng.

(còn tiếp)

Vương Trí Nhàn
(Ghi chép và sơ bộ tổng hợp nghiên cứu)


Cùng chuyên mục
Xem theo ngày
Đọc thêm