12/02/2009 07:00 GMT+7 | Phóng sự
(TT&VH Cuối tuần) - Hãy nghe một thiếu nữ ngày xưa thách cưới thế này: Cưới em trăm tấm lụa đào... Tráp trầu đủ cả trăm đôi/ Ống vôi bằng bạc, chìa vôi bằng vàng... Cưới em một vạn trâu bò/ Hai vạn dê lợn, chín vò rượu tăm. Sính lễ vật chất đã đành thế, sính lễ “phi vật thể” mới khó: Lá đa mặt nguyệt đêm rằm/ Răng nanh chú Cuội/ Râu cằm Thiên lôi... Thách vậy mới thỏa tấm lòng. Chàng mà lo được thiếp cùng xin theo. Không biết trai vùng khác sẽ đối đáp thế nào, còn trai ở chằm Dạ Trạch, Bãi Sậy - Hưng Yên đối thế này: Nghèo thì bán núi bán sông/ Lấy tiền mà cưới bõ công đi về/ Anh đây có cái nhà tre/Đố làm bằng sậy, rui mè bằng lau/ Cột cái bằng cây thầu dầu/ Mái nhà anh lợp bằng tầu chuối khô/ Ván bưng thời đóng bằng mo/ Câu đầu cũng chạm con cò, con chim/ Sau có khóm khoai lim/ Trước nhà rau rệu bìm bìm cảnh chơi/ Nước ăn anh hứng mưa trời/... Em về sinh sống cùng anh/ Giường rơm, chăn cói, quạt mành, mo cau/ Đôi ta ý hợp tâm đầu/ Anh êm, em ấm trước sau vẹn tròn.
Nghe trống quân Dạ Trạch - Nhớ thiên tình sử trên Bãi Tự Nhiên
Nghệ thuật hát trống quân là một phương thức giao duyên của trai gái thôn quê đồng bằng Bắc bộ, có ở rất nhiều vùng, từ Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên... cho đến Thanh Hóa, tuy mỗi vùng mỗi khác biệt chút ít. Riêng trống quân Dạ Trạch, sự ra đời của nó lại được gắn chặt với huyền tích về thiên tình sử trên bãi Tự Nhiên. Nơi Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử. Chuyện kể rằng sau cái duyên kỳ ngộ trên bãi sông, thì cặp vợ chồng Tiên Dung - Chử Đồng Tử cắm đất lập làng, khẩn hoang chiêu mộ dân chúng. Họ dạy dân cấy lúa chăn tằm, dùng phép tiên chữa bệnh cho nhân dân. Lúc rảnh rỗi, nàng công chúa Tiên Dung lại dạy trai gái hát đối. Chính từ điệu hát này mà đức thánh Chử lại cưới thêm một bà vợ nữa, tên là Tây Sa công chúa (là điều bất ngờ rất ít người biết). Điệu hát ấy được coi chính là điệu hát trống quân Dạ Trạch còn lưu truyền đến ngày nay, mà người ta vẫn thường hát trước cửa ngôi Đình Hóa - xã Dạ Trạch. Nơi đây thờ Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân, tương truyền họ đã bay về trời từ đây, để lại cái tên đầm Dạ Trạch (thuộc khu vực chằm Nhất Dạ ngày xưa). Ngôi Đình Hóa nằm bên này sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Yên, thì bên kia sông đối diện là bãi Tự Nhiên, nơi tương truyền công chúa Tiên Dung quây màn tắm tiên mà gặp Chử Đồng Tử (bãi Tự Nhiên thuộc xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín - Hà Tây cũ).
Còn đây những nét tinh hoa…
Hát trống quân, dễ nhưng mà… khó!
Theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan lý giải, hát trống quân có từ thời Trần, do quân lính gõ sạp thuyền hát giải trí trong lúc hành quân, sau này mới truyền vào dân gian. Có thuyết khác lại cho rằng hát trống quân là nói chệch từ “tống quân” (tiễn bạn) mà ra. Có thuyết lại cho rằng (Nhạc sĩ Tú Ngọc dẫn trong sách Dân ca Việt Nam, 1994) hát trống quân cũng ra đời trong quân ngũ, nhưng lại từ thời vua Quang Trung đem quân ra Bắc... Thực sự, cho tới tận hôm nay, trống quân ra đời từ bao giờ còn là điều mà giới nghiên cứu âm nhạc dân tộc chưa khẳng định được cho minh xác... |
Trống quân Dạ Trạch nghe chậm rãi và tình tứ. Nghệ nhân Nguyễn Thị Thanh Xuyên kể rằng khi đội trống quân Dạ Trạch đi hát ở Bảo tàng Dân tộc học vào Trung thu năm 2008, một cô phiên dịch viên tiếng Anh nghe bà và ông Mau hát bài Hát thách cưới, nước mắt cứ chảy ròng ròng. Hỏi sao lại khóc, thì cô gái bảo nghe hát mà thương bà ngoại quá. Ngày xưa, cũng vì cụ ngoại thách cưới cao quá, người bà thương không lấy được, phải bỏ đi, bà ôm hận suốt một đời. Nhưng lúc nghe bà kể thì chỉ thương chứ cũng không khóc, bây giờ nghe Trống quân lại khóc vì cảm thấu được cái đau khổ của bà mình...
Trống quân Dạ Trạch bị đứt đoạn năm 1945 (giống như các làn điệu dân ca nơi khác) do biến động lịch sử. Năm 1992, một số nghệ nhân cao tuổi sưu tập lời, khôi phục thành các bài hát đối. Họ lập ra đội trống quân Dạ Trạch, vận động các thành viên tuổi trung niên ở xã tham gia, mời những nghệ nhân từng đi hát ngày xưa tham gia biểu diễn và truyền dạy. Lẽ ra, hát Trống quân thường là thanh niên, nhưng thanh niên xã Dạ Trạch có nghề cân sức khỏe (bằng cái máy đo chiều cao cân nặng ta vẫn thấy người đẩy đi rong ở mọi nơi) nên họ bỏ đi tứ xứ làm ăn. Cả làng có hơn 200 cái cân, đi theo mỗi cái cân là một gia đình, hoặc một thanh niên độc thân, đẩy cân đi cân người khắp nước. Do vậy, đội Trống quân Dạ Trạch chỉ còn những người trung niên và người già. Ông Bổn ao ước: "Chúng tôi đã già, nhưng vẫn phấn son đi hát, lườm nguýt nhau vui đáo để, tuy nó trẻ trung ra nhưng cũng không hợp bằng lớp trẻ nó hát. Mong sao có kinh phí thành lập một câu lạc bộ để truyền dạy cho lớp trẻ, duy trì những lời hay ý đẹp, giai điệu độc đáo của cha ông truyền lại...".
Có gì giống nhau giữa trống quân và cái “clôổng tật”?
“Clôổng tật” là tiếng Mường gọi cái “trống đất”. Cách đây vài năm, chúng tôi có đến nhà ông nghệ nhân Đinh Văn Nhật ở thôn Nưa Thượng, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn để tìm hiểu về cách làm, diễn xướng trống đất và đàn “toòng - tửng” của người Mường.
Theo truyền thuyết của người Mường, thì trống đất có từ thời vua Hùng. Cách làm trống khá giống cách tạo trống quân. Nhưng khác ở chỗ lấy ngay hố đất làm hộp cộng hưởng (có bịt mặt hố bằng mo cây bương). Sợi dây vắt qua mặt hố (dùng để gõ lên dây phát ra tiếng) được ghim căng xuống với mặt mo chứ không phải kê dựng lên như trống đất. Bình thường, trẻ trâu cũng làm được trống đất, nhưng các cụ người Mường xưa cấm, vì sợ đánh lên nó “động rừng”, vì đây còn là cách truyền âm để báo hiệu giặc giã. Các cụ thầy mo Mường khi làm trống đất là phải cúng gà, và hợp tấu với đàn “toòng - tửng” để tế bái, chứ không phải dụng cụ âm nhạc để đùa chơi. Nếu như trống đất và trống quân là một, thì đây là một nhạc cụ tối cổ của người Việt. Bằng vào sự đơn giản trong việc chế tác, và sự phổ biến của lối hát, các gõ trống như thế khắp miền Bắc, thì hẳn lai lịch trống quân có thể là rất lâu đời... |
Đăng nhập
Họ và tên
Mật khẩu
Xác nhận mật khẩu
Mã xác nhận
Đăng ký
Xin chào, !
Bạn đã đăng nhập với email:
Đăng xuất