
Nếu suy xét kỹ những tác phẩm, những công nghiệp mà Trần Nhân Tông đã làm, ta sẽ thấy chữ nhân là điều xuyên suốt, là thông điệp duy nhất của cả cuộc đời ông. Nói cách khác, tất cả những gì Trần Nhân Tông đã viết, đã làm đều chỉ hướng đến một mục đích là khai sáng, mở rộng, làm sắc sâu và lung linh trong lòng người nghĩa đủ của nhân.
Trên thế gian này, đã có hàng vạn câu thơ viết về lòng người, làm xúc động hàng triệu trái tim người. Nhưng có lẽ, một trong những câu thơ hay nhất là câu Số đời một màn kéo. Tình người đôi mắt ngân. Ánh mắt nhìn mà có thể ngân lên thành tiếng hát, thành sự sẻ chia ngọt ngào, đồng cảm; quả là sự trác tuyệt của thi từ. Đọc câu thơ đó, ta như thấy lòng mình dịu lại bất chấp mọi đớn đau, nhức nhối của cuộc đời. Ta còn nhận ra rằng cuộc đời và lẽ nhân quần tha thiết biết bao cho dù cái lang thang vô định của kiếp người ngắn ngủi lắm.
2. Rời ngai vàng năm 35 tuổi (1293). Đó là điều trên thế giới không thể có người thứ hai làm được. Ông coi thường phú quý, ông ghét sự xa hoa. Chính vì thế nên khi vua con Trần Anh Tông thăng quan, bổ chức nhiều quá, Trần Nhân Tông đã đau đớn mà thốt lên rằng Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi? Đó là cách nói, cách hiểu của một vị vua coi dân như con đẻ của chính mình. Đau nỗi đau của dân, biết nỗi khổ của dân và tin chắc rằng một chính quyền tốt nhất phải là chính quyền cai trị ít nhất – ít quan nhất có thể. Bài học mà Trần Nhân Tông đã dạy con mình là bài học mà lịch sử, dẫu đã trải qua 700 năm nhọc nhằn, lam lũ; cho đến tận bây giờ vẫn còn thấy xót xa!
Năm 1289, Trần Nhân Tông làm bài thơ gửi cho sứ nhà Nguyên Lý Tư Diễn, trong đó có câu Tịch hiệp thiên hà tẩy chiến trần (Kéo cả dải Ngân hà về để rửa sạch bụi trần của đớn đau, mất mát). Có thể, ông là người đầu tiên biết rất rõ rằng những mâu thuẫn từ chiến tranh, những sai lầm không thể nào sửa chữa được ấy là khủng khiếp đến nhường nào! Trước đó, Trần Nhân Tông đã cho đốt hết các bức thư hàng giặc để khỏi phải lâm cảnh đầu rơi máu chảy với hàng ngàn gia đình. Cái nhân trong ông, cách ông dạy cho cả dân tộc về nhân thật giản dị: Hãy đừng sỉ nhục những kẻ chiến bại, hãy cưu mang và độ lượng; đó là con đường ngắn nhất để đất nước thống nhất, hiệp hòa...
3. Kinh Phật dạy rằng Tâm (citta) là kho chứa vô vàn các chủng tử (bìja - hạt giống). Trần Nhân Tông là bậc Huyền Tổ của sự bao dung, nhân ái, nên ông là người sắc sâu với triết lý rằng muốn khai mở lòng nhân cho người, trước hết hãy từ mình. Cà một vò, tương một hũ; không chỉ là câu thơ mô tả cuộc sống thường ngày. Sự đạm bạc, thanh nhàn là lẽ sống của ông. Nhờ thế, dẫu cư trần, Trần Nhân Tông vẫn thênh thang lạc đạo. Làm sao không lạc không an khi cả cuộc đời ông là sự dâng hiến hết mình cho dân, cho nước, cho cái nghĩa triết sâu của Phật pháp mãi dương hoằng? Nếu Khổng Tử là người đã khắc ghi cho nền văn minh Trung Hoa, “vẽ nên mắt rồng”, bổn lẽ của lễ , thì Trần Nhân Tông là người đã tạo lập, định hình, minh triết và hoằng khải chữ Nhân.