Hệ thống đường xá của Việt Nam hiện đại hơn Thái Lan và Phillipines.
Viện Nghiên cứu toàn cầu McKinsey (Mỹ) đưa ra những đánh giá gây ngạc nhiên về Việt Nam. Bài viết đăng trên Foreign Policy.

Việt Nam là một quốc gia có kinh tế phát triển nhanh hơn bất kỳ một quốc gia nào ở châu Á, ngoại trừ Trung Quốc. Từng bị chiến tranh tàn phá nặng nề, trong hơn 30 năm qua Việt Nam đã chứng kiến nhiều sự khởi sắc trong nền kinh tế, đặc biệt là kể từ khi chính sách đổi mới được ban hành vào năm 1986.
Kinh tế Việt Nam không còn phụ thuộc nhiều vào nền nông nghiệp. Tỷ trọng GDP của ngành này đã giảm từ 40% xuống còn 20% trong 15 năm qua, với tốc độ giảm nhanh hơn rất nhiều so với các nước khác trong châu Á. Thay vì phát triển nông nghiệp, Việt Nam tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp và dịch vụ. Trong 10 năm qua, lượng lao động tham gia vào các hoạt động công nghiệp và dịch vụ tăng lên đáng kể.
Việt Nam là một quốc gia hàng đầu trong lĩnh vực xuất khẩu hạt tiêu, gạo, cà phê và hạt điều. Việt Nam đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu tiêu với sản lượng 116.000 tấn trong năm 2010 và 4 năm liên tiếp dẫn đầu về sản lượng xuất khẩu điều. Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về sản lượng gạo sau Thái Lan, thứ 5 về sản lượng trà và thứ 6 về hải sản.
Việt Nam không phải bản sao của Trung Quốc. Khác với nhầm tưởng của nhiều người hiện nay, Việt Nam đặc biệt khác với quốc gia đông dân nhất thế giới trên hai khía cạnh. Trước hết, trong khi tiêu dùng hộ gia đình ở Trung Quốc chỉ chiếm 35% GDP thì tỷ lệ này ở Việt Nam lại cao tới 65% - một tỷ lệ cao bất thường ở châu Á. Thứ hai, trong khi tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chủ yếu là do sản xuất các mặt hàng xuất khẩu và mức độ vốn đầu tư cao, nền kinh tế của Việt Nam cân bằng hơn giữa sản xuất và dịch vụ, mỗi loại chiếm khoảng 40% của GDP.
Việt Nam là thị trường thu hút đầu tư nước ngoài. Theo khảo sát của phòng đầu tư và phát triển Anh, Việt Nam là một trong các điểm đầu tư hấp dẫn nhất thế giới sau nhóm các nước Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.
Hệ thống đường sá của Việt Nam hiện đại hơn Thái Lan và Phillipines. Năm 2009, mật độ đường ở Việt Nam đạt 0,78 km/km2 diện tích cao hơn Thái Lan hay Philippines, dù hai quốc gia này được đánh giá là phát triển hơn. Cũng trong năm 2009, mạng lưới điện che phủ hơn 96% diện tích cả nước.
Thế hệ trẻ Việt Nam ngày càng sử dụng nhiều tới công nghệ thông tin. Từ năm 2000 đến 2010, số người sử dụng điện thoại ở Việt Năm tăng lên 70%. Tính đến cuối năm 2010, có tất cả 154 triệu số điện thoại di động được sử dụng ở Việt Nam. Tỷ lệ số người sử dụng Internet cũng tăng lên đáng kể tới 31% (dù đứng sau Malaysia và Đài Loan). Hiện tại, 94% người sử dụng Internet của Việt Nam truy cập tin tức trực tuyến. Hơn 40% người sử dụng truy cập các trang web mỗi ngày.
Việt Nam là một trong những địa điểm hàng đầu cho dịch vụ đầu tư từ xa. Hiện có khoảng 100.000 nhân lực làm việc cho các công ty lớn ở nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam, chẳng hạn như Hewlett-Packard, IBM và Panasonic. Trong thực tế, Việt Nam có tiềm năng trở thành một trong 10 địa điểm hàng đầu thế giới trong lĩnh vực đầu tư từ xa, do có lượng sinh viên tốt nghiệp đại học lớn và mức tiền lương trả cho nhân công tương đối thấp.

Tăng trưởng lao động ở mức báo động. Từ năm 2005 đến 2010, hai phần ba giá trị tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu là nhờ có lượng công nhân trẻ và bộ phận chuyển từ nông nghiệp qua các lĩnh vực khác. Tuy nhiên hiện nay yếu tố này đang giảm đi khá nhiều. Các số liệu thống kê chính thức cho thấy khả năng trong 10 năm tới, tỷ lệ tăng trưởng lực lượng lao động sẽ giảm xuống mức 0,6% mỗi năm, so với mức 2,8% giai đoạn 2000-2010. Do vậy, việc nâng cao năng suất lao động là yếu tố thiết yếu nếu Việt Nam muốn duy trì tăng trưởng ở mức cao.