Giấy tờ một đường, thực tế một nẻo
Vào một nhà hàng Ethiopia ở trung tâm Berlin, nơi có bán các món ăn thật ngon và lạ miệng, thực khách ai cũng hài lòng. Nhưng nếu biết được thực tế phũ phàng ẩn sau những đĩa thức ăn tỏa mùi thơm phức ấy thì nhiều người không thể nuốt trôi dù chỉ một miếng. Cách chỗ họ ngồi chỉ mấy bước chân, trong gian bếp, một người phụ nữ Ethiopia phải làm việc luôn chân luôn tay từ sáng sớm đến tối muộn. Chị sang Đức đã năm rưỡi nay nhưng không hề biết một từ tiếng nước sở tại. Cũng phải thôi, bởi suốt thời gian ấy, chị bị tách biệt với thế giới bên ngoài. Lao động cực khổ như vậy nhưng ông chủ mới chỉ trả cho chị 500 euro, tức chưa đầy 1 euro/ ngày. Không thể gọi chị là người lao động bình thường mà có lẽ phải dùng từ “nô lệ” thì đúng hơn.


Câu chuyện đến tai dư luận vào Hè năm nay và khiến mọi người nhớ tới số phận một phụ nữ khác. Chị này là công dân Indonesia và có mấy năm liền làm nô lệ cho một nhân viên ngoại giao Yemen tại Đức. Chị phải làm mọi việc trong nhà, từ dọn dẹp cho đến giặt giũ, bếp núc mà không được trả một đồng tiền công nào. Cả hai trường hợp nói trên được phát hiện một cách tình cờ. Còn trong tuyệt đại đa số trường hợp thì các ông chủ không bị trừng phạt và những người nô lệ chẳng được đền bù cả về vật chất lẫn tinh thần.
Không có thống kê chính thức về số lượng nô lệ nước ngoài ở Đức. Theo ước tính của các tổ chức nhân quyền Đức và quốc tế, có khoảng hơn 10 triệu người là nạn nhân của tình trạng bóc lột sức lao động hoặc bóc lột tình dục tàn nhẫn.
Bà Heike Rabe, nhà hoạt động xã hội Đức nổi tiếng, nói rằng phần lớn các trường hợp buôn bán người và sử dụng nô lệ vẫn chìm trong bóng tối là do hệ thống pháp luật và hoạt động của các cơ quan hành chính ở nước này chưa hoàn thiện. Bà cho biết: “Ví dụ trong lĩnh vực xây dựng, nhà chức trách chỉ dừng lại ở việc kiểm tra trên giấy tờ, như hợp đồng lao động, giấy phép cư trú và làm việc. Thường thì họ không kiểm tra thực tế có bao nhiêu người lao động ở công trường, điều kiện làm việc ra sao và quyền lợi của thợ có bị vi phạm hay không”.
Ưu tiên quyền con người hay luật di trú?
Hầu hết các nô lệ lao động và tình dục không cầu cứu cơ quan bảo vệ pháp luật vì họ sợ bị trục xuất. Nói cách khác, các nô lệ đều nhập cư vào Đức bất hợp pháp và luật di trú không đứng về phía họ.

Heike Rabe cho rằng chính quyền Đức cần phải bảo vệ lợi ích của cả những người mà bản thân họ đã vi phạm pháp luật và không có giấy tờ tùy thân. Hiện nay, trên thực tế đang diễn ra điều ngược lại. Nếu có trường hợp buôn người hay sử dụng nô lệ được phát giác thì nạn nhân bị đẩy sang vị trí người làm chứng. Và vì không phải là người nhập cư hợp pháp nên họ không được bồi thường về vật chất cho những mất mát của mình.
Ông Heiner Bielefeldt, Giám đốc Viện Nhân quyền Đức, cho rằng mọi người đều có quyền như nhau, bất kể vị thế xã hội cao hay thấp. Vì vậy, trong các vụ buôn người hoặc sử dụng nô lệ thì phải xem xét theo hướng ưu tiên đối với quyền con người nói chung. Việc tuân thủ quyền con người quan trọng hơn yếu tố vi phạm luật di trú. Ông kêu gọi chính phủ Đức phê chuẩn Công ước chống buôn người đã được Hội đồng châu Âu soạn ra hồi năm 2005.
Trở lại trường hợp của người phụ nữ Indonesia nói trên. Theo phán xử của tòa án, nhân viên ngoại giao Yemen phải trả 23.000 euro cho người bị mình đối xử như nô lệ suốt mấy năm qua. Đây là chuyện hy hữu ở Đức.
Theo số liệu của những văn phòng tư vấn cho các chị em bị buộc phải làm nghề “bán phấn, buôn hương”, số tiền bồi thường mà một nữ nô lệ tình dục được nhận tối đa chỉ là 4.000 euro. Rõ ràng, số tiền này quá ít so với những thiệt hại về tinh thần và thể xác mà các nạn nhân phải chịu đựng.
Các hình thức xử phạt đối với những ông chủ sử dụng nô lệ lao động và nô lệ tình dục ở Đức như vậy, theo tờ Deutsche Welle, là quá nhẹ, không đủ để có tác dụng răn đe. Vì thế, tình trạng buôn người và sử dụng nô lệ ở nước này mỗi năm một tăng. Số liệu chính thức (chỉ tính các vụ được tòa xử) cho thấy năm 2006 ghi nhận có 356 trường hợp sử dụng nô lệ tình dục. Đến năm 2007, con số này tăng lên thành 454...